prix viagra pharmacie
Hôm nay: Thứ 3, 11 - 21 - 2017 / 0:35:48

Chó hoang

 

(Truyện dài)

Chương I. “NHAN CU CAFÉ QUÁN” & NHỮNG VỊ KHÁCH VUI TÍNH
 
Khu Đô thị Tây Phú Lộc mới hình thành hơn dăm năm nay mà đã khá bề thế. Đó là kết quả quá trình đô thị hóa, tốc độ nhanh đến chóng mặt ở khu vực miền Trung. Mới là làng Thanh Khê hôm nao, nay đã là “Khu Đô thị Tây Phú Lộc” mới toanh. Nhà cửa khang trang, phố phường thông thoáng, điện sáng giăng giăng, cây xanh tươi mát.

Mọi người hay nói với nhau rằng, nơi đây là “khu phố đáng sống” cũng không ngoa. Bởi lẽ, là một khu phố mới, hướng tới dịch vụ du lịch ven biển, nhưng còn rất yên tĩnh. Có tiệm tạp hóa bán mua nhưng không sầm uất tưng bừng. Có nhà hàng khách sạn, cà phê giải khát, quán nhậu… nhưng không xô bồ huyên náo. Gọi là nơi tái định cư, nhưng mọi người sống với nhau gần gủi ôn hòa. Nét đáng yêu nơi đây là dáng phố mà còn vương lại những nét làng quê. 

Nếu một số thửa đất phân lô xây căn hộ rải rác ở mỗi con phố không bị bỏ trống và khu đất rộng gần hai héc - ta ở ngã tư Nguyễn Thị Thập - Ngô Đức Kế được tái thiết thành một công viên như đã quy hoạch, chứ không bỏ hoang cho cỏ mọc như hiện nay, thì Tây Phú Lộc có thể là một khu đô thị mới kiểu mẫu của thành phố.
**
Đối diện với khu đất bỏ hoang ấy có một góc không gian nhỏ bình yên: Quán cà phê vỉa hè buổi sáng “Nhan Cu… Café Quán”. Ông chủ là một vị Đại tá công an về hưu. Khách uống thường xuyên chủ yếu là các cựu quan chức nghỉ hưu vui tính.
Cái tên “Nhan Cu… Café Quán” do các vị khách vui tính này bịa ra, xướng lên nghe là lạ, rất đời mới và có vẻ thâm thúy. Chấp nhận được!
“Nhan Cu… Café Quán” còn ẩn vế sau của một câu thành ngữ chữ Hán mà hầu như ai cũng biết: “Nhàn cư vi bất thiện”. Nghĩa là, khi con người không có công việc ngồi chơi an nhàn, dễ nảy sinh những suy nghĩ và việc làm không tốt. Ý nghĩa sâu xa hơn là muốn nhắc nhau tự răn dạy mình. Hết tuổi làm việc về nghỉ ngơi, mọi người nên sống khỏe, sống vui và hướng thiện. Một không gian sống mà ai cũng thích: Chốn lương dân.
Nơi đây còn được các bác gán cho một cái tên rất cao sang: “Cung Hội nghị Ban mai” - Ngồi bàn trà, cà phê buổi sáng, đàm đạo chuyện thế gian. Khách hàng là “Thượng Đế”. Nơi “Thượng Đế” đến tự nhiên như ở nhà mình; uống trà, cà phê thì ít, mà tiêu tốn thời gian hơi nhiều. Mục đích cuối cùng: Vui là chính!
Sáng dậy sớm, sau khi đi vận động thể dục về, các vị “Hưu trí quan” ghé ngồi lại với nhau. Sau những lời mời chào trang trọng “Ông!”, “Bà!”, “Đồng chí!”, “Thủ trưởng!”… tiếp theo chuyện nổ như ngô rang. Đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, kim cổ đông tây, từ triều đình chính sự cho chí góc phố vỉa hè… tha hồ “tám”, tha hồ “chém gió”, khi hưng phấn tự sướng “nổ” chuyện như bom.
**
Sau mấy ngày nghỉ Tết, tại góc phố Nguyễn Thị Thập - Ngô Đức Kế bỗng dưng xuất hiện một con chó lạ đi lang thang loanh quanh đây đó. Nó có những đặc điểm dễ gây sự chú ý cho mọi người:
Một con chó cái gầy nhom, thân hình dài nhằng, chân cao, tai xừng chỉa về phía trước trông giống như hai cái sừng. Mọi người phỏng đoán, đây đích thực là giống chó săn có hạng của lâm nghiệp, lạc chủ rừng trôi dạt ra thành phố không tìm được lối về.
Toàn thân chó bao phủ một lớp lông màu lam rất dày, điểm thêm những vòng khoang màu đen tạo thành những nét vằn vện trông hơi sờ sợ. Người yếu bóng vía nhìn thấy nó dễ liên tưởng đến con beo, con sói đi hoang.
Ngay trên đỉnh đầu điểm một nhúm lông màu trắng tạo một cái bớt. Những người thông thạo về chó thường gọi là cái “mút”. Theo kinh nghiệm của nhưng người am hiểu về chó, thì đây là một con chó quí.
Khi chọn chó để nuôi, chúng ta hãy nhớ một câu truyền dạy rằng, “Mút đầu thì nuôi, mút đuôi thì thịt”. Có thể hiểu là: Chó có cái mút ngay trên đỉnh đầu là những con chó rất tinh khôn, dễ nuôi và dễ dạy, trung thành và có nghĩa với chủ. Ngược lai, những con chó có cái mút đuôi, tức là chót đuôi có một nhúm lông khác màu với toàn thân, là con chó ngu đần không nên nuôi.
Dáng đi chậm rãi, cụp đuôi cúi đầu và rất buồn. Hình như nó đang đi tìm một cái gì đó bị đánh rơi. Đôi mắt buồn, lại có những cái nhìn xéo lấm la lấm lét sợ sệt và luôn luôn giữ một khoảng cách xa chừng mươi thước với con người. Khi phát hiện có sự đe dọa là nó chạy rất nhanh. Nhanh như chồn đèn và biến mất như một cái bóng.
Cảnh giác cao độ và đối phó nhanh mọi lúc, mọi nơi là bản năng sinh tồn của những con chó đi hoang. Chính vì nhờ có bản năng ấy mà con chó này thoát qua mọi hiểm họa tai ương đang rình rập chung quanh. Và cũng nhờ những ngày ngày nghỉ Tết Nguyên Đán, hàng quán “Cầy tơ 7 món” tạm nghỉ. Bọn Cẩu “tặc” ngưng hoành hành, nên con chó mới còn được đi thong dong như thế.
**
Con chó lạ này xuất hiện đã gieo vào mọi người chung quanh ngã tư Nguyễn Thị Thập - Ngô Đức Kế nhiều thắc mắc, có cả sự lo lắng và hoài nghi. Các vị khách thường xuyên và vui tính của “Nhan Cu… Café Quán” có thêm chủ đề câu chuyện bàn cãi sôi nổi trong buổi gặp gỡ cà phê đầu năm.
Các bác nhắn nhe cho nhau rằng, sáng đầu năm đi uống cà phê sớm (có bị chú thêm là, đầu năm gã Đại tá chủ gia chiêu đãi hàng tết tồn kho miễn phí!). Lại còn ngoa lời nghe cho sướng tai, có vẻ ta đây còn đang ở chốn công đường chính thống - “Hội nghị giao ban đầu Xuân”. - Mọi người đến đông hơn mọi ngày.
Mở hàng đầu năm quán đông khách, chủ nhân vui cười tưởng chừng rách miệng. Sau vài lời xum xoe chúc mừng năm mới qua loa cho phải phép, vị Đại tá Công an chủ quán khơi nguồn bàn về con chó.
Đại tá lên tiếng trước tiên:
-Mọi người chắc đã biết việc con chó nhà ai mới xuất hiện gần đây. Đầu năm Mùi mà chó lạ xuất hiện là nguy hiểm lắm. Dễ có sự sinh “Đem thân dê chó mà bắt nạt Tể Phụ!”. Đây là con chó tiềm ẩn mầm bệnh dại các anh ạ. Nó mà cắn phải ai là khổ thân họ. Nhỡ không tiêm phòng được sẽ phát điên. Mà điên loại này là quên tiếng người, sủa lên như chó, rồi chết thảm lắm! Phải cảnh giác cao độ! Giết lầm còn hơn bỏ sót. Tiêu diệt ngay hậu họa từ trong trứng nước!
Chao ơi, gần mười năm hoàn dân rồi mà vẫn chất giọng trấn áp như xưa. Bà cô từng công tác ở Chi Cục thú y đánh tiếng ngay sau đó:
-Em can bác Đại tá nóng tính! Không nên có suy nghĩ hồ đồ mà chụp mũ vội vàng và đối xử thô bạo với con vật như vậy được. Em để ý đến con chó này từ mấy hôm nay rồi. Nó chỉ đi lang thang loanh quanh như thế, chứ không có biểu hiện tấn công ai cả. Thậm chí không ai có thể tiếp cận được với nó. Mấy đứa trẻ con lối phố thương con chó ốm yếu bị bỏ đói, đem bánh mì đến cho. Hình như nó có nhận biết, khẽ vẫy đuôi. Nhưng sau đó giật mình bỏ chạy rồi mất hút. Nếu bị bệnh dại thì nó phải hóng mõm lên trời tru tréo và chảy nước dãi đằng mồm chứ - Sau khi giảng giải một lô về những biểu hiện về các thể cấp của bệnh dại, bà cô đưa tay chỉ con chó đang đi bên kia đường khẳng định - Đây là con chó nhà ai đi lạc qua mấy ngày Tết đang tìm đường về. Mình tìm cách nhắn tin lên mạng facebook giúp nó tìm về với chủ. Con vật cũng như con người thôi, không người thân, sống cảnh vô gia cư tội lắm các bác ạ!
Vị khách trẻ hơn có thói quen nháy mắt lia lịa, trước đây là lính trinh sát ở Đơn vị Biệt động Nội thành T20 phản bác lại:
-Bà chị bị bệnh nghề nghiệp “ám”, dự đoán sai rồi. Dân gian có câu nói “lạc đường nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu”. Con chó này vừa đi vừa ngửi xuống đường kìa. Chó là loài vật siêu nhớ đường, biết đánh dấu đường đi bằng nước tiểu, khi đi đâu cứ đến chỗ ngã rẽ là nó dừng lại tè một tí. Khi đi xa mất phương hướng, chúng cứ ngửi mùi nước tiểu của mình mà tìm đường trở về - Chiêu một ngụm cà phê xong, anh ta lí giải tiếp - Bởi thế cho nên xin chó nhà ai về nuôi, khi đem về không được dắt mà phải bồng và bịt mắt nó lại. Vậy là nó tịt đường tìm về với chủ cũ.
Một chú người cao cao, trán hói, mũi cao, mắt trố trông hao hao như lai Pháp, trước đây từng là Giám đốc Trại giam, vung tay “e hèm” hắn giọng:
- Trước đây, giờ Giao thừa chưa có lệnh cấm đốt pháo. Mấy chú lính nhà tôi đốt dây pháo cối nổ dai, nổ dài và to như lựu đạn. Con chó Béc-giê của trại khiếp quá vượt rào mất tích cả tuần mới trở về. Lúc tinh thần bấn loạn cần bỏ chạy thoát thân, thì dù cho chó nghiệp vụ của công an cũng quên lối về, huống chi là chó nhân dân. Tôi tin chắc chắn là con chó này đã bị một chấn động lớn về tinh thần, dẫn đến rối lọa trí nhớ. Cứ để nó đi lại tự do như thế, ít hôm nữa qua cơn sốc tâm lí sẽ nhớ đường trở về nhà với chủ.
Còn nhiều cách nhìn nhận của các ông, các bà góp vào luận bàn về con chó này rất sôi nổi. Có cả những điều trái ngược không ai chịu ai. Bản tính người Quảng Nam hay cãi thể hiện quá rõ. Vào tuổi “lục tuần thuận nhĩ, bất đáo nha môn”, quý khách vui tính càng thể hiện tính khí hiếu thắng với nhau. Cãi nhau rất căng nhưng hơn thua không ai hờn giận!
Đã sáu bảy mươi năm cuộc đời trải nghiệm, kinh qua nhiều công việc chuyên môm, phẩm hàm, chức tước trong bộ máy công quyền, nay trở về hoàn dân, nên mỗi người có cách giảng giải và suy luận riêng, đều có lý. Nói chung là hợp lo-gic, có tính thuyết phục. Một vài câu hỏi được đặt ra về con chó còn chưa có lời giải thích thỏa đáng, thuộc những vấn đề “vô thủy vô chung” chưa thể biết.
Cạn ly cà phê.
Nhạt nước ấm trà.
Cuối cùng tất cả các vị chủ khách cũng đi đến nhất trí trước lúc tan hàng:
Chó mà không nhà, không chủ là chó hoang. Chắc con chó này cũng được chủ nó đặt một cái tên Kít, Nô, Lu hay là Tu, Ky… gì đó. Nhưng chúng ta không biết, nên cứ gọi nôm na là: Con Vằn “đi hoang”. Cách gọi thân thương là “Vằn”.
Ai có lòng tốt và tâm hồn yêu chó thì dụ Vằn về nhà nuôi. Nếu Vằn vẫn cứ sợ con người như thế, thì hãy để nó sống cuộc đời hoang dã của một thân phận chó hoang. Tìm được gì ăn nấy, thích đâu ngủ đó.
Vằn không làm hại đến ai thì không ai được đánh đuổi nó. Và một việc quan trọng nhất, là mỗi người nên lưu tâm bảo vệ an toàn cho Vằn, không để sa vào tay bọn Cẩu “tặc”.

Chương II. VỢ CHỒNG ÔNG GIÁO

Trong cuộc đàm đạo và bàn luận về con Vằn tại “Nhan Cu… Café Quán” hôm ấy, có một người ngồi diện kiến câu chuyện suốt từ đầu đến cuối, chỉ trầm ngâm lắng nghe. Dáng vẻ suy tư nghĩ ngợi mông lung mà không góp một câu nào. Đó là ông giáo mới nghỉ hưu được vài năm nay.
Gia đình ông giáo sống ở ngôi biệt thự mi - ni nhìn xéo góc với “Nhan Cu… Café Quán”. Gọi là “ngôi biệt thự” cho sang trọng, chứ thực tế chỉ là ngôi nhà cấp 4 nho nhỏ, xây 2 tầng ngay góc ngã ba. Nhờ có thằng cháu Kiến trúc sư khéo léo, biết lợi dụng ưu thế không gian 2 mặt đường, phối thêm mấy cái nhõn có trổ cửa tò vò, trang trí hình lá sách bằng gỗ. Nên trông ngôi nhà hơi lạ và khá đẹp mắt.
Khoảng sân nhỏ phía trước hiên và khoảnh đất kế bên định dành lại làm nhà để xe ô tô - Chiếc xe hình con bọ hung, dạng đồ cổ và cũ kĩ hơn vẻ mặt ông chủ - Ông giáo thiết kế thành cái vườn nho nhỏ trồng vài khóm hoa, nuôi mấy con chim và xếp đặt một vài cái tiểu cảnh, khá vui mắt.
Trên khu đất bỏ trống đối diện phía bên kia đường, thấy người ta làm ông giáo cũng bắt chước làm theo. Gọi là tận dụng đất bỏ hoang, tráng nền trồng trụ, cấy đòn tay gác tôn tạo thành “nhà để xe” tạm thời. Và cũng là chỗ mỗi chiều hè ông giáo bắc ghế ngồi chơi, đọc báo.
Ông giáo có phong thái nho nhã, thuộc diện trí thức cổ điển. Từ cách ăn mặc, đến đi đứng, nói năng… rất mô phạm. Gương mặt hiền lành, có nhiều nếp nhăn rất sâu ở trán và hai đuôi mắt. Mái tóc hoa râm hơi dài chải ngược không rẽ ngôi. Cùng với đôi kính trắng hai tròng gọng mạ vàng bóng loáng, tôn thêm vẻ sang trọng và nghiêm nghị của một vị giáo sư khả kính. Gặp ông giáo lần đầu dễ liên tưởng đến một nhà hiền triết Đông phương.
Ông giáo gốc người Quảng Nam. Sau Hiệp định Giơ - ne - vơ 1954, ông đi tập kết ra miền Bắc. Thời trai trẻ, ông giáo tốt nghiệp Đại học Tổng hợp ở Hà Nội, được động viên về lại chiến trường B. Ông giáo dạy học từ khi mới vào chiến trường Khu V. Vốn kín đáo, sống giản dị dễ gần gũi mọi người, ít khi tham gia luận bàn lí sự hơn thua.
Mỗi sáng, ông giáo thường đến quán cà phê muộn hơn mọi người. Không phải để thưởng thức cà phê, mà theo ông nói một cách khiêm nhường là xin ngồi hóng chuyện.
Bạn bè hay nói đùa với ông giáo rằng, hơn bốn mươi năm làm nghề thầy giáo rao giảng quá nhiều. Bây giờ về già nghỉ hưu, hết tiếng. Nghe thế ông chỉ cười, vẻ mặt rạng ngời với nụ cười không thành tiếng.
Mấy ông bạn vui tính phong tặng ông giáo là “Người Công dân kiểu mẫu”, làm nhiều hơn nói. Hằng ngày khách ngồi bên “Nhan Cu… Café Quán” nhìn sang, thấy ông giáo làm việc luôn tay. Những công việc gần như lập trình sẵn mỗi ngày:
Trước tiên là quét, quét từ trong vườn ra ngõ, ngang dọc hai bên vỉa hè, rồi quét xuống lòng đường. Có hôm mạnh tay ông quét luôn đến ngã tư Nguyễn Thị Thập - Ngô Đức Kế.
Ở thành phố thuộc diện trẻ trung “Văn minh, Xanh, Sạch, Đẹp” mà rác rưởi ở đâu ra nhiều thế? Ông giáo già cứ quét từ ngày này sang ngày khác, quét hoài mà không hết!
Rác từ hàng cây hai bên đường đổ xuống. Nóng vội cho thành phố xanh, ngành công viên đua nhau trồng các loại cây nhanh lớn. Cây nào càng nhanh lớn thì lá rụng càng nhiều. Rác từ trong nhà dân, quán nhậu thải ra, từ người đi đường ném xuống.
Dân ta quen hô hào tự phong tự sướng, mà hơi yếu nếp sống cộng đồng, chỉ biết sạch trong nhà và quanh chỗ ngồi của mình!
Tiếp theo quét là dọn, dội rửa chuồng gà, chuồng chim. Người ta bảo ông giáo sinh ra để siêng năng chăm làm. Ông đáp lại, là tại cuộc đời sợ ông buồn nên công việc tự dưng tìm đến. Hình như đúng như thế thật:
Vị Đại tá Công an chủ quán “Nhan Cu… Café Quán” có con gà trống rừng khá đẹp mã, “Đầu Rồng, đuôi Phụng, cánh Tiên”, nuôi bên cửa sổ. Tiếng gáy vang vang mỗi sớm, gọi nắng mai về trên dáng phố hồn quê. Vợ Đại tá không ưa tiếng gà gáy. Bà dọa đem giết thịt. Vì nó gáy sớm quá làm bà ta mất ngủ!
Tiếc con gà trống rừng đẹp, vị Đại tá đem tặng ông giáo nuôi. Thương con gà trống sống một mình buồn, ông giáo tìm về cho nó một con gà mái. Mái gặp trống “dậm” nhau suốt ngày, đẻ ra trứng. Gà mái hết đẻ tự ấp. Ba lứa đẻ ba lần ấp, ấp mãi không nở ra gà con. Đến lần đẻ thứ tư ông giáo vẫn kiên trì cho gà mái ấp trứng.
Một hôm ông bạn già, trước đây làm hề gánh hát “Đông Sơm mãi võ” đến chơi, biết việc gà đẻ ấp mấy lần không nở, góp ý:
-Gà rừng nuôi ở nhà có thể đẻ, nhưng ấp không nở đâu ông ạ! Thiết thực nhất là lấy trứng đem đánh sữa uống vào cho khỏe tuổi già, tăng tuổi thọ. Trứng gà mới lọt ra còn nóng hôi hổi, lấy kim chích một lỗ, kê môi bú một hơi. I…hi… Sướng mê li! Nghe sợi bỗ khỏe xuyên từ cửa tiền cho đến cửa hậu!
-Béo bỗ gì mấy quả trứng, cứ để cho ấp! Được sinh nở và ôm ấp là bản năng sinh tồn của tạo hóa và là hạnh phúc của muôn loài.
Xong chuyện gà đến chuyện nuôi chim: Ngày cậu con út đi chơi Giao thừa về không may bị tai nạn. Vết thương hiểm quá không cứu được. Những ngày sắp Xuân vui thì lại có chuyện đau buồn ngút trời sập xuống gia đình ông giáo.
Thương và lo ông giáo buồn, người bạn gửi tặng một con chim sáo. Ông giáo nuôi mãi đến bây giờ. Con sáo sống trong nhà như một người thân. Mỗi khi ông giáo đi đâu về, sáo biết chui lồng bay ra “Chào ông! Tốt! Tốt!”.
Thật kì lạ! Người ta thường bảo “Vui như chim sáo sổ lồng”. Vậy mà con chim sáo của ông giáo lại coi lồng là nhà. Lồng không cần cửa, sáo tự ra vào. Hằng ngày biết bay đi tìm nước tắm, bơi và vẫy vùng như vịt. Tắm xong sáo lại vào lồng rỉa lông và nói chuyện một mình, cứ trọ trẹ “Ba-chi-khơ! Ba-chi-khơ!”. “Ba-chi-khơ!” là ngôn ngữ dân tộc nào? Nghĩa là gì? Chẳng có ai hiểu hết.
Công việc cuối cùng ở ngoài vườn là bơm nước tưới cây, chăm mấy luống rau và vài ba cụm hoa. Các loại cây, cây gì ông giáo đem trồng cũng sống. Loài hạt đến mùa đơm bông kết trái. Loài hoa đến kì chơm nụ khoe màu.
Nhìn những công việc và kết quả xanh mơn, “trăm nghe không bằng một thấy”, ai đến nhà chơi cũng khen ông giáo có bàn tay của một “Hiền nhân”. Ông giáo lại cười. Vẫn nụ cười rất tươi không thành tiếng.
Quét dọn chuồng trại xong còn phải cho chúng nó ăn. Ông giáo rất kĩ tính. Theo ý ông thì nuôi con vật cũng như nuôi người. Không nuôi thì thôi, chứ đã nuôi con gì cũng phải chăm cho chúng nó ăn ở chu đáo.
Đối với gà, mỗi độ về quê thăm chơi, ông giáo thường tìm mang ra những bao lúa mới phơi khô, sàng sảy sạch sẽ. Vài ngày, ông lại đi nhặt cho gà một nắm sỏi nhỏ hạt. Gà cần ăn thêm sỏi để giúp cho hệ tiêu hóa hoạt động tốt hơn.
Lúa ông giáo đem về không những cho gà ăn mà còn để cho chim sẻ. “Thóc lúa ở đâu bồ câu đến đó”, chim se sẻ, rồi bồ câu tìm về nhà ông sống chung. Chúng làm bầu bạn với ông, vui chơi chạy nhảy với gà.
Đối với chim sáo, ông giáo chăm kĩ như chăm trẻ con. Bột làm cho chúng ăn phải là bột ngũ cốc đem ngào với tứng gà, rồi cho lên bếp lò sấy khô ủ kín vào lọ, mở ra thơm lừng. Ngoài bột, mỗi ngày chim sáo lại được ăn một viên thịt bò tươi băm viên, do bà vợ ông giáo làm để sẵn trong tủ lạnh, hoặc mấy con châu chấu. Châu chấu do ông giáo bắt về.
Cảnh ông giáo già giữa trưa nắng đội nón ra bãi cỏ trước nhà bắt châu chấu - Một hình ảnh chân quê, thân thương mà cũng hơi ngồ ngộ, rất bình dị đời thường. Giữa thành phố hiện đại mà có một nơi để ông giáo đi bắt châu chấu - Một góc phố thanh bình dân dã đáng yêu!
Vợ ông giáo cũng từng là một cô giáo dạy học lâu năm và có uy tín trong vùng. Cô được các bậc phụ huynh kính trọng và tin tưởng về sự nghiêm khắc và thương yêu học trò như con đẻ của mình. Nay cô giáo đã nghỉ hưu rồi mà các bậc cha mẹ vẫn dắt con em đến gửi gắm nhờ kèm cặp dạy thêm tại nhà.
Mấy lần ông giáo khuyên cô nên thôi dạy thêm, nhưng cô không bỏ được, còn nhớ trường lớp, yêu nghề và thương các em - Nhất là mấy đứa học trò con nhà nghèo khó. Những em thuộc hoàn cảnh như thế cô dạy miễn phí. Cô thường tâm sự với ông giáo rằng, lớp học thêm của mình gần như một “lớp học phi lợi nhuận”.
Mỗi lần vợ chống ngồi nói chuyện vãn với nhau, nghe bà giáo tâm sự ông cũng cảm thấy nao lòng:
-Vợ chồng đang tuổi về già, còn mỗi thằng con lớn ngồng ngồng ngoài tuổi ba mươi, bận công việc đi công tác liên miên, có khi biền biệt cả tuần lễ. Nhớ chuyện thắng nhỏ đi lạc năm xưa, tôi lo sợ. Nếu có được con dâu và đứa cháu nội, thì nhà ta vui biết mấy! Sao thằng này tỉnh táo trong công việc mà tình duyên lại cứ ngủ quên! - Bà giáo nén tiếng thở dài, buông một câu cụt ngủn – Nghĩ hơi buồn ông he!
Chuyện của quá khứ lại về: Năm thằng cu hơn hai tuổi, được dẫn ra thăm Hà Nội. Tối hôm ấy, ông bà giáo đưa con đến Hồ Gươm xem múa rối nước. Trong khi ông giáo đi mua vé, bà giáo bị mấy ông thợ nhíp ảnh xúm lại chào mời. Chỉ một phút xao lãng, lạc mất cu con.
Ông bà giáo chia nhau hối hả ngược xuôi tìm kiếm. Bà giáo sấp ngửa bơ phờ khóc cạn nước mắt. Mãi đến tận khuya, đường phố vắng người, Công an Hoàn Kiếm mới tìm thấy thằng bé ngủ quên cùng với một con chó, trong cái thùng thư công cọng hỏng, cạnh nhà bưu điện trung tâm.
Khi làm thủ tục giao trả thằng bé cho ông bà giáo, mấy chú công an trầm trồ khen ngợi:
-Thằng bé đen thui, tròn quay, gan lì. Khá lắm! Thấy công an đến mà không thèm khóc!
Ông bà giáo đang theo đuổi những kỉ niệm ấu thơ lần lượt ngược dòng về các con. Bà giáo nói giọng đều đều như kể chuyện, xen lẫn chút trách hờn:
-Đàn ông đàn ang như ông còn có con gà con chim, cây cối làm vui. Buồn tình, chiều chiều nhắn nhe mấy ông bạn già đến lai rai vài chén tiêu sầu. Còn tôi, thành cô thành bà rồi, phải có công việc làm vui. Chắc rồi phải tìm con chó, con mèo về nuôi cho vui cửa vui nhà!
-Muốn thế thì ra dụ con Vằn ấy về nuôi kìa.
-Con Vằn con Vện nào? - Bà giáo ngạc nhiên hỏi.
- Ô hay nhỉ! Bà không biết thật à! Con chó nhà ai đi lạc nhà đang lang thang trú ngụ ngoài bãi cỏ trước nhà mình đó. Mọi người suy đoán chắc là con chó lành và đặt tên là Vằn, gọi theo màu lông của nó. Nuôi mèo, phải loại “mèo mả gà đồng” đến kì động dục có thể bỏ chủ theo bầy đàn. Chứ chó thì không. Chó không bao giờ bỏ chủ, chỉ có chủ bỏ chó thôi!
Ông giáo kể tỉ mỉ cho bà giáo nghe về sự xuất hiện của con Vằn và những khúc mắc trong lòng về nó. Con Vằn từ đâu đến? Điều đó chưa thể biết chính xác được. Nhưng vóc dáng và hình thể như thế, nó là giống chó săn chính hiệu. Loại chó này thường có gốc từ các nơi thuộc phía tây tỉnh Quảng Nam. Ít ai nuôi nhốt ở thành phố. Giống chó săn không chịu được nghịch cảnh trói chân.
Những chuyện đó không quan trọng. Điều làm cho ông giáo dằn vặt từ khi con Vằn xuất hiện đến nay: Tại sao nó lại nơm nớp lo sợ và xa lánh con người đến thế?
Chó là động vật nuôi đầu tiên được con người thuần hóa cách đây khoảng mười lăm nghìn năm vào cuối Kỷ băng hà. Tổ tiên của loài chó là chó sói, chung sống gần gũi, gắn bó với loài người bao đời nay. Dù là chó giữ nhà, làm cảnh, đi săn…đều là con vật hiền lành và hiếu nghĩa đến tận cùng với chủ.
Có những ông chủ nổi cơn nóng giận lôi đình vì việc gì đó, đành tâm bỏ đói, đánh đau, thậm chí bạo hành với chó. Chó sẵn sàng nằm lì ra chịu trận, đến khi chịu hết nổi vùng dậy bỏ chạy cong đuôi. Hôm sau quay về gặp chủ vẫn quấn bên chân vẫy đuôi mừng rối rít, coi như không có trận đòn vừa mới xảy ra hôm qua.
Trên thế gian không hiếm những con chó cưng liều mình xông vào nơi hiểm nguy để cứu thân chủ. Sống trong nhà, chó là chú lính chì trung thành canh cửa, làm bạn với người già, nô đùa với con trẻ. Không ít những con chó chí nghĩa chung tình, gắn bó keo sơn với người. Khi chủ qua đời, chó theo ra tận mồ, rồi đào hang nằm cạnh nhịn đói chết chung với chủ…
Trong chiến tranh, những câu chuyện về chó cũng dũng cảm, anh hùng và cảm động như con người: Chó làm giao liên, chó đi canh gác, chó đi rà mìn... Lúc cần phải hy sinh, bộ đội đặc công buộc thủ pháp vào cổ, chó lao vào đồn làm “cảm tử quân” giết giặc…
Với con người, chó là loài vật tinh khôn, mãi mãi là người bạn thủy chung. Vậy thì điều gi sai khiến con Vằn sinh ra như thế: Luôn luôn cảnh giác với tai họa và giữ một khoảng cách xa với con người ?!
Bà giáo chăm chú lắng nghe và chia sẻ những tâm sự của chồng. Lúc đầu bà còn hơi tư lự nghi ngại, nhưng rồi cũng tỏ lòng xót thương; cứ tặc lưỡi “Tội nghiệp nó he!”
Ông giáo nhận thấy ý tình ở bà giáo có vẻ chưa mặn mà lắm khi nghe câu chuyện. Nhưng ông tin chắc chắn rằng bà sẽ đi tìm con Vằn.
Tình cảm vợ chồng một đời má áp tay gối đã quá thấu hiểu nỗi lòng nhau! Những năm dạy học, với trách nhiệm người thầy cùng với tấm lòng người mẹ, cô giáo đã từng cảm hóa được những đứa học trò ngổ ngược, đầu têu hoang nghịch bỏ nhà đi bụi, níu kéo chúng nó trở lại với trường lớp, với bạn bè.
Nay các em đã trưởng thành làm nên sự nghiệp. Có người hướng vào cõi tu, lên ngôi Đại Đức làm Trụ trì ở Chùa. Nghe nói gần đây, các em về chung tay cùng các mạnh thường quân xây dựng Thiền Viện Bồ Đề của Hòa Thượng Thích Minh Tuấn, tại thành phố Đà Nẵng.
Ngày lễ tết các em lại tìm về thăm, tựa vai, cúi đầu sà vào lòng bà giáo như những đứa con đi xa được trở về với mẹ. Đó là biểu hiện tình cảm thiêng liêng tình thầy trò, niềm vui rưng rưng của những Người bao năm tận tụy đưa đò qua sông đời, chở đầy hoa tươi và nắng ấm.
Trong cõi lòng xa khuất, bà giáo còn gói trọn một nỗi buồn sâu thẳm. Nếu vô tình chạm đến, nỗi đau sẽ vở òa tràn ra như suối. Đó là chuyện về đứa con gái đầu lòng của ông bà năm xưa: Bé vừa mới lên hai đẹp tựa thiên thần. Chỉ vì sự tắc trách của ai đó sau mũi tiêm phòng, mà bé đã vĩnh viễn ra đi, để lại cho ông bà nỗi buồn đau chất ngất.
Chỉ có ai rơi vào những ngịch như bà giáo mới thấu hiểu. Một người mẹ hai lần mất con và một lần con đi lạc. Người phụ nữ tuổi xế chiều, mỗi lần soi gương thấy tuổi trẻ bỏ rơi mình, chung quanh cảm thấy luôn trống vắng…Những âu lo không hình hài đeo bám, khiến bà giáo thành người phụ nữ đa mang, người mẹ đa cảm đa sầu!

Chương III. CON VẰN “ĐI HOANG”

Khu đất rộng gần hai héc ta ở ngã tư Nguyễn Thị Thập - Ngô Đức Kế quá lí tưởng. Dân kinh doanh bất động sản dù có nằm mơ cũng không thể với tới được.
Trước khi qui hoạch, nơi đây là một trảng cát rất bằng phẳng. Bây giờ nó là khu đất vàng của thành phố: Vuông vức bốn mặt tiền, chung quanh là những dãy phố cư dân ổn định, lại nằm dọc theo đại lộ Lý Thái Tông vươn ra biển.
Trong dự án “Khu Đô thị Tây Phú Lộc”, khu đất vàng ấy được qui hoạch để xây dựng một trường học, nhưng chủ đầu tư chê nhỏ. Ban Quản lý điều chỉnh ưu tiên hình thành một công viên du lịch biển. Ý tưởng hoành tráng như vậy, mà suốt nhiều năm nay bị bỏ hoang hóa cho cỏ mọc. Các hộ kinh doanh tận dụng mặt bằng làm nơi chứa phế liệu, bãi để xe ô tô.
Khu đất vàng giữa lòng thành phố bị bỏ hoang cho cỏ mọc thuộc về ai! Chưa thể biết! Nhưng hiện nơi ấy trở thành bãi chăn thả rong trâu bò, chỗ tề tựu cho lũ chó mèo rượt đuổi cấu xé nhau. Và… Con Vằn “đi hoang” cũng nương tựa vào chốn ấy.
Ít ra, giữa nơi đô hội phồn hoa xa lạ, con Vằn cũng tìm được một chốn bình yên trong cỏ cây, bạn bầy cùng đồng loại!
Ngày tiếp ngày, Vằn lại lầm lũi trong các con hẽm vắng tìm thức ăn thừa trong những túi rác, tối chui vào bãi cỏ để ngủ. Nhặt nhạnh thức ăn dư thừa con người đổ đi, nhưng nhiều khi bị người ta đánh đuổi. Vì khi Vằn bới tìm làm vung vãi túi rác của nhà họ. Khổ lắm! Bây chầy lắm! Nhưng vì bụng réo đói đòi ăn, Vằn lại phải len lén bới tìm thôi. Ban ngày sợ người ta nhìn thấy đánh đuổi, Vằn chuyển qua đi kiếm ăn ban đêm. Thoáng thấy bóng người là Vằn cụp đuôi cắm đầu tháo chạy.
**
Một điệp khúc ban mai! Cứ sơm sớm mỗi ngày, Vằn lại âm thầm gằm mặt dạo lang thang quanh khu đất trống; rồi xuôi ngược theo các đoạn phố. Đang đi Vằn dừng lại ngẩng mặt lên nhìn bâng khuâng, rồi quay lui tìm đi hướng khác. Hình như Vằn cố công tìm ra một lối đi quen thuộc nào đó trong tiềm thức, nhưng vô vọng. Tất cả vẫn lạ lẫm, lại thêm nỗi lo sợ bị ai đó săn đuổi.
Ở đâu Vằn cũng lo sợ. Chỉ có khi đi quanh khu đất trống um tùm cỏ lau này là Vằn tìm thấy sự bình yên. Nhận thấy có sự đe dọa Vằn lủi nhanh vào rừng cỏ. Trong cỏ lau con người không thể chạy nhanh hơn Vằn.
Đôi chân dài được tôi luyện để chạy đua với những trận rượt đuổi. Bộ móng vuốt sắc nhọn của mèo rừng. Vằn không sợ bất cứ loài thú nào. Vằn chỉ sợ con người đi bằng hai chân và đôi tay cầm dùi cui, gậy gộc!
Chuyện con Vằn xuất hiện tại ngã tư Nguyễn Thị Thập - Ngô Đức Kế này ai cũng biết. Mọi người đều tỏ lòng thương cảm, nhưng chỉ biết yên lặng ái ngại nhìn từ xa, khuất dần theo dáng dấp tiều tụy khi Vằn đi qua. Thương thì rất thương! Ai cũng muốn cho con Vằn cái ăn nhưng không gần được. Hễ đến gần là Vằn chạy. “Tội nghiệp con chó hoang không chủ, không nhà!” - Lời nói xót thương không giúp được gì cho cuộc sống hiện tại của con Vằn.
Bóng dáng con Vằn lặng lẽ, chầm chậm đi qua chỗ “Nhan Cu… Café Quán” mỗi sáng, mặc nhiên trở thành vệt nắng tinh khôi điểm xuyết cho một ban mai bình yên, lòng người thảnh thơi. Và là niềm vui nhỏ nhoi trước dòng chảy ngược xuôi của cuộc sống đương đại. Chưa có điều gì tai ác đến với con Vằn đơn côi. Một ngày thánh thiện, tươi vui đang mở cửa.
Nếu bãi đất hoang mọc đầy cỏ tại ngã tư Nguyễn Thị Thập - Ngô Đức Kế này là một bức tranh thủy mặc, thì hình bóng con Vằn lẻ loi, đơn độc, đáng thương…kia là nét điểm trang tài hoa màu mực tím, để bức tranh hoàn thiện, đẹp đến nao lòng!
Một hình bóng rất quen nhưng không hề cũ. Mỗi sáng ngồi ở “Nhan Cu… Café Quán” mà không thấy con Vằn đi qua, các vị khách thường xuyên và vui tính cảm thấy li cà phê ít đậm, nhạt đường. Không ai nhắc ai mà tất cả đều trông ngóng, chờ đợi và dõi mắt kiếm tìm. Đến khi nghe “Nó đang đi bên đường kia kìa!” thì các ông bà mới yên tâm nhấm nháp chút hương vị đậm đà hòa lẫn chát đắng đầu ngày và bắt đầu dốc bầu tán chuyện.
**
Lại một lần nữa con Vằn đang đi tới! Nó không cần biết những ánh mắt thương cảm của các bác ngồi uống cà phê bên kia đường đang dõi theo mình. Cách một quãng xa xa phía sau là bà giáo. Bà đi theo con Vằn! Hay là đi tìm ông giáo?
Hôm nay còn sớm, ông giáo chưa sang đây. Bà giáo đang đi theo con Vằn. Những bước đi nhanh hơn. Khoảng cách với con Vằn được thu ngắn dần.
Đang bước đi lững thững đột nhiên con Vằn… co chân chạy và biến mất vào vạt cỏ. Bà giáo cũng đứng lại, khẽ lắc đầu rồi quay về nhà.
Chú lính trinh sát “hưu non” đang máy mắt theo dõi, bỗng giật mình vỗ tay đánh “bốp” xuýt xoa:
-Chu cha, con Vằn thiện nghệ hơn lính trinh sát bọn tôi, có mắt đằng đuôi - Đi liền với lời khen, đôi mắt chú cựu trinh sát vốn hay nháy, giờ nhay nháy càng nhanh hơn - Có mắt đằng đuôi thật nghe! Không cần quay đầu nhìn lại mà vẫn biết bà giáo đang tiến gần từ phía sau. Lập tức phát lệnh…Chạy!
Ông giáo đã xong việc nhà đến sau. Biết mọi người đang nói về con Vằn, chưa kịp ngồi ông đã góp chuyện:
-Lúc nãy bà nhà tôi vừa ra đến cổng thì con Vằn ở bên kia đường cũng vừa đi tới. Bà lẵng lặng theo sau, coi như vô tình như người đi đường. Theo được một đoạn, hình như con Vằn biết có người đang bám đuôi, nên bỏ chạy mất.
Chú trinh sát nhanh tay kéo ghế mời ông giáo ngồi cạnh mình. Vừa yên chỗ ông giáo nói tiếp:
-Khi hôm nghe tôi kể về con Vằn, bà ấy hơi mũi lòng, thấy cũng thương thương, đang nghĩ cách dụ nó về nhà nuôi - Ông giáo vỗ vai chú lính trinh sát - Đánh trận giỏi như chú em mi thì bà thua. Nhưng chuyện “dụ khị” này chắc bà nhà làm được.
-Hồi xưa bà dụ được ông giáo vào nhà là loại siêu cường, cao thủ đó nghen!
Cả hội cười vang rung cả ghế!


Chương IV. ÔNG BÀ GIÁO VÀ CON VẰN

Rằm Tháng Giêng năm nay trời mưa rả rích suốt ngày. Gió biển thổi hiu hiu se lạnh. Không biết con Vằn chui núp ở đâu? Đêm đã khuya rồi mà vợ chồng ông giáo vẫn còn thao thức, cứ tặc lưỡi thở dài lo cho con Vằn lang thang trong mưa lạnh.
Người già bình thường đã hay khó ngủ, huống chi có nỗi bận tâm lo lắng xót thương. Ông giáo lần cầu thang lên gác, cắm xong nén hương trên bàn thờ rồi ngoái đầu nhìn ra đường.
Màn đêm mưa bay lất phất.
Ánh đèn cao áp rọi thẳng vào chỗ nhà xe.
Con Vằn đang ở đó.
Sau nhiều lần tới lui, vòng vo loanh quanh, con Vằn chui vào gầm xe. Không thấy con Vằn trở ra, ông giáo thở phào nhẹ nhõm. Con Vằn đã chọn được chỗ núp mưa tránh gió!
Quanh đây có nhiều nhà xe, con Vằn chọn chỗ của nhà ông. Vậy là tốt rồi! Tốt cho nó và cho cả vợ chồng ông! Cứ để yên như vậy! Nếu dậy bật đèn hay ra mở cổng, nhất định con Vằn sẽ lại bỏ chạy. Ông giáo yên tâm đi ngủ.
**
Hằng ngày vợ chồng ông giáo thường thức dậy vào lúc vừa rạng đông, cũng là lúc con gà trống rừng trong chuồng vỗ cánh gáy liên hồi. Hôm nay ông nằm nán lại, đợi cho trời sáng hẳn và điện đường tắt hết mới dậy ra mở cổng.
Con Vằn không có chỗ nhà xe. Dưới gầm xe, chỗ đặt động cơ còn in dấu nằm mòn lỉn, cạnh đó rơi rớt lại một vài mẩu xương.
Con Vằn nằm trú mưa.
Thật tội nghiệp!
Trời mưa không tìm ra cái ăn, con Vằn “Buồn như chó đòi nằm gặm xương khô!”.
Ông giáo đảo mắt nhìn quanh. Con Vằn đang ngồi ngoài bãi cỏ ngóng vào, có vẻ chờ đợi một điều gì. Chắc nó đang đói.
Ông giáo trở vào nhà lấy cơm nguội, vét tất cả những thức ăn còn lại tối qua, trộn một tô đầy đem ra. Vừa thấy ông giáo bưng tô cơm đi ra, lập tức con Vằn đứng dậy quay đuôi chạy.
Để lại tô cơm chỗ nhà xe, ông giáo vào nhà lên gác nhìn ra tìm. Con Vằn đã trốn mất.
-Quái lạ! - Ông giáo đi xuống, vừa đi vừa lẩm nhẩm một mình - Lại trốn mất rồi! Cứ thấy bóng người tới gần là sợ? Thương nó bị đói, mình đem cơm ra, chứ có cầm roi vọt gậy gộc đánh đuổi đâu mà chạy.
Con chó hoang sợ cả lòng tốt của con người!
Đến tận trưa vẫn không thấy con Vằn ở đâu, ông giáo ra chỗ nhà xe. Tô cơm vẫn còn nguyên. Chắc nó sợ ông giáo nên bỏ đi nơi khác rồi!
Đến chiều, ông giáo cảm thấy có điều gì áy náy trong lòng. Ông lại ra nhà xe định thay tô cơm khác, phòng khi con Vằn có thể quay trở lại.
Lạ kì chưa? Cái tô sạch bong như có ai vừa chùi rửa! “Không biết có phải con Vằn đến ăn không nhỉ? Ở bãi đất hoang lâu ngày này, chuột mèo không thiếu.” - Ông giáo nghi ngờ nói trống không như vậy.
Ông giáo bắt đầu tò mò về sự khác thường khó hiểu của con Vằn.
**
Cơm tối xong, ông giáo đem ra thay tô cơm mới, vẫn để lại chỗ cũ và bắt đầu để ý theo dõi:
Đêm không mưa.
Trời quang mây.
Trăng mười sáu đứng đầu soi tỏ.
Đoạn đường chạy qua trước nhà ông giáo vốn yên tĩnh, về khuya gần như vắng lặng. Đèn cao áp sáng choang soi rõ như ban ngày.
Con Vằn xuất hiện từ phía bãi cỏ đi vào. Tất cả mọi vật ngủ yên. Chỉ mỗi bóng dáng con Vằn đang chuyển động. Từng bước đi dò dẫm, lẻ loi và đơn côi đến tội nghiệp.
Con Vằn cứ qua lại chỗ nhà xe. Lần nào nó cũng ngoái lại nhìn tô cơm, rồi nhìn quanh. Muốn ăn lắm nhưng lại sợ và bỏ đi qua luôn.
Con Vằn cứ vờn tô cơm như thế. Ông giáo cảm thấy thương hại, mà cũng hơi bực bội. Ông nhủ thầm, “Chó đói mà chê cứt khô, mèo què chê chuột chết!”. Cuối cùng rồi con Vằn cũng sè sẹ tiến lại sát tô cơm, ngửi quanh và bắt đầu ăn nhỏ nhẹ. Ăn được vài miếng nó lại ngước lên nhìn quanh. “Ghê thật! Cơm vào miệng rồi vẫn cảnh giác, lo sợ!” - Ông giáo nghĩ thầm và tiếp tục đứng theo dõi mọi động thái, có thể nói là quá cẩn trọng của con vật kì quặc này.
Con Vằn ăn hết tô cơm. Ông giáo tưởng ăn no rồi nó sẽ chui vào gầm xe ngủ. Nhưng không, con Vằn lại quay trở ra bãi cỏ ngồi nhìn vào. “Biết đâu con chó này có mắt đằng đuôi thật, nó theo dõi ngược lại mình chăng! Không biết nó ‘ngồi thiền’ như thế đến khi nào? Hay là muốn thi thức đêm với nhau? Tôi với ông xem ai ngủ trước!” - Ông giáo mệt nhoài người, đứng nghĩ vu vơ.
Con Vằn đứng dậy đi thẳng vào nhà xe. Lần này nó đi nhanh và mạnh bạo hơn chứ không có những bước chân sợ sệt e dè như trước. Vào nhà xe rồi, con Vằn vẫn không chịu đi nằm. Nó lại tiếp tục “ngồi thiền” ở đó.
-À! Vậy là ta biết rồi! - Bất chợt ông giáo nảy sinh ý nghĩ: Ban đêm con vằn không ngủ. Màn đêm là môi trường hoạt động lý tưởng.- Con vằn đã hóa thành loài thú săn mồi về đêm rồi ư?
Chống hai chân trước, ngẩng cao đầu nhìn thẳng là kiểu ngồi cố hữu của con Vằn. Tư thế vận động viên sẵn sàng chờ hiệu lệnh xuất phát. Bây giờ ông giáo mới để ý kĩ đến hai cái tai của con Vằn: Đang chỉa tới phía trước như cặp sừng, lại giật lui ra sau như tai thỏ, rồi rung rinh xoay vòng tròn một cách điệu nghệ. Con Vằn đang “làm xiếc”! Với đôi tai biết “làm xiếc”, con Vằn có thể nghe được từ nhiều phía.
Thấy không có động tĩnh gì, con Vằn chui vào gầm xe. Đợi một lúc không thấy con Vằn trở ra, ông giáo cảm thấy vui và yên lòng quay xuống phòng ngủ. Con Vằn đã thua cuộc!
Bà giáo còn thức, hình như cũng muốn biết kết cục “cuộc do thám” của ông.
Biết rõ sự tình con Vằn như thế, bà thở phào nhẹ nhõm căn dặn thêm:
-Vậy là cuối cùng con chó đáng thương ấy cũng đã tìm được chỗ ăn chỗ ngủ. Cứ bình thường như thế, lần hồi quen dần, ta cũng có thế dụ nó về nhà. Mình sốt ruột, nhưng đừng vội vàng vồ vập quá. Nó sợ lại bỏ đi là mất luôn. Con chim bị cung tên rồi thường sợ cành cong, con chó này chắc cũng như thế.
Nếu bà giáo mà dụ được con Vằn vào nhà, thì sắp tới có thể ông giáo thêm một việc làm nữa - Nuôi chó!
**
Việc con Vằn ở lại khu vực ngã tư Nguyễn Thị Thập - Ngô Đức Kế không còn ai quan tâm đến nữa. Ông bà giáo trở thành chủ nhân của nó. Ông bà giáo nói đùa rằng, đang chiêu dụ một “cô học trò cá biệt”, với những “hành vi khác người”.
Hằng ngày con Vằn không sống trong nhà. Vỉa hè, góc phố vắng là nơi lang thang rong chơi. Bãi cỏ hoang là chốn bình an khi chạy trốn. Nhà xe ông giáo là chỗ ăn, gầm xe là nơi ngủ. Cơm nước hằng ngày có ông bà giáo bưng bê.
Có thể nói rằng con Vằn là một con chó đặc biệt: Một con chó câm. Chưa hề nghe con Vằn sủa bao giờ. Với con người luôn luôn có một khoảng cách li nhất định. Phản xạ tinh nhanh. Bản năng phòng thân duy nhất là chạy trốn.
Mỗi ngày con Vằn có vẻ dạn người hơn . Ít đi rong, nó thường khoanh người nằm dưới gầm xe.
Dù là con chó đi hoang cũng phải ăn mới sống và cần có sự chở che. Hình như con Vằn đã nhận ra gia đình ông bà giáo là chỗ nương tựa tin cậy duy nhất. Tuy vậy, cảnh giác và xa lánh đã là bản năng sống còn. Ngay cả với ông bà giáo cũng thế. Khi ông bà bày tỏ sự thân thiện vẫy tay gọi “Nô…Nô…” là nó lãng ra xa, bước tới là nó bỏ chạy.
Một con chó với những cử chỉ kỳ quặc! Con Vằn sợ đến cả cái vẫy tay thân thiện của người. Những cái vẫy tay mời gọi của con người, chứ đâu phải cái bẫy giăng sẵn ra chờ nó.
Đến bữa ăn cũng thế. Ông giáo bưng tô cơm ra, lập tức con Vằn quay đuôi đong đưa, rồi lững thững rời đi nơi khác. Tô cơm ngụi lạnh để từ sáng đến qua trưa. Vằn quay trở lại ăn lúc nào? Không ai biết!
Riêng đối với bà giáo, con Vằn có những cử chỉ thân thiện hơn. Bà bưng cơm ra, lúc đầu nó cũng lãng ra xa, nhưng không đi hẳn mà quay lui nhìn và vẫy đuôi. Hình như con Vằn muốn “làm eo, mặc cả” với bà giáo. Nó đợi phải có lời mời chăng? Bà vẫy tay và bảo “Không chuyện gì phải sợ, con lại ăn đi!”. Con Vằn hơi ngập ngừng lưỡng lự. Hình như đọc được suy nghĩ của nó, bà giáo lặp lại câu nói và chỉ tô cơm, rồi trở vào cỗng đứng nhìn ra. Con Vằn sè sẹ đến ăn tóm tém.
Chỉ đối bà giáo mới như thế thôi. Còn hỏi tại sao như thế thì không thể biết được.
Mỗi lần cảm thấy vui vui, ông giáo trại giọng quê ra thắc mắc “răng rứa hè?”. Bà giáo nói trêu ông:
-Thấy người hiền nó mừng. Còn tướng mạo ông dữ quá nó… sợ.
-Răng con chim, con gà không sợ?
-Bạn bè tôn ông là “hiền nhân” rồi, đi mà hỏi họ!
-Con chim sáo biết nói “chào ông” khen “Tốt! Tốt!”. Gà trống biết gáy gọi bình minh. Gà mái biết “Tục ta…tục tác!” khi đẻ trứng. Còn con chó của bà không biết sủa! - Ông giáo cười hì hì rồi chua thêm - Đã là chó mà không sủa được thì thịt.
-Thịt mà được à! Tội nghiệp! Con chó hiền khô! Nó hiểu được tiếng người đấy ông ạ. Mình cần phải “giải mã” ra để hiểu. Tôi đem cơm ra nó mừng, bảo “Con lại ăn đi!”. Nó lại ăn rất từ tốn. Ăn hết nó còn ngước nhìn vào vẫy đuôi. Ta phải hiểu rằng nó muốn nói “Con cảm ơn bà!”. Nhưng vẫy tay bảo “con vào nhà với bà đi”. Nó liền nằm sấp sãi dài bốn chân, gếch mõm lên phe phảy cái đuôi, nghĩa là “Cảm ơn bà! Con sợ! Và con không dám làm phiền!”.
Ông giáo mỉm cười. Việc này có thể bà giáo nói có lí. Con Vằn “nói” bằng cử chỉ. Loài người văn minh cần phải biết giải mã ngôn ngữ của nó.
**
Con Vằn đã coi gầm xe ô-tô ông giáo thực sự là nhà. Chỗ đi về hằng ngày. Coi ông bà giáo là chủ. Mỗi lần chủ đi đâu về nó cũng biết đứng dậy vẫy đuôi mừng. Nhưng chỉ đứng xa xa thôi, chứ không xoắn lại quấn quanh chân như những con chó khác.
Đến bữa con Vằn về lãng vãng bên nhà xe, nghe trong nhà có tiếng soạn chén dĩa cũng ngong ngóng chờ đợi được ăn.
Ông giáo để ý nhận thấy dạo này con Vằn mập hơn một chút, ít đi rông hơn. Ban ngày nó dạo chơi đâu đó, nhưng chạng vạng tối là trở về nằm trông xe. Có con Vằn nằm đó lũ chuột bấy lâu nay hay trú ngụ chui vào cắn phá trong xe biến mất. Có hôm Vằn còn vật được một con chuột cống to như chú heo sữa để trước đầu xe. Nó muốn “khoe công” với chủ.
Khi đã có biểu hiện hòa nhập được với gia đình ông giáo, Vằn thể hiện là một con chó tinh khôn. Nằm gầm ô tô trông ra, thấy bọn nhỏ chạy chơi, hay học sinh tiểu học đi học về, Vằn nằm im mắt lim dim như ngủ. Nhưng thấy người lớn đi tới là lập tức đứng dậy, lui về phía sau trong tư thế phòng thủ, sẵn sàng chạy.
Hằng ngày ông giáo ra quét hè hay tưới cây, vào ra trước ngõ là công việc bình thường, dường như Vằn không để ý tới. Nhưng khi thấy ông giáo nai nịt quần áo, giày dép chỉnh tề là đoán biết ông sắp ra xe. Vằn lập tức rời khỏi chỗ nằm ra đứng cách một khoảng xa vẫy đuôi nhìn.
Ông giáo nhìn nó mỉm cười phẩy tay và hiểu cái vẫy đuôi của nó thay cho lời chào thân thiện: “Dạ thưa ông! Hôm nay có việc ông cứ đi!”

Chương V. “HOA KHÔI” BÃI CỎ HOANG

Khu đất trống nơi ngã tư Nguyễn Thị Thập - Ngô Đức Kế bắt đầu có sức hút. Không phải vì vị trí thuận lợi mời gọi các chủ đầu tư. Mà là một không gian xanh hấp dẫn đàn bò thả rông. Mỗi chiều xuất hiện vài bóng người đội nón lom khom cắt cỏ. Đó là những dấu chấm than của làng quê còn vương lại trên dáng phố.
Khu đất quang đãng sáng sủa hẳn ra, càng thấy rộng mênh mông. Trống đất thuận tiện cho việc tìm kiếm ve chai, thêm việc làm cho những người đi rà tìm phế liệu.
Bãi cỏ hoang còn có một sức hút giống loài không thể cưỡng lại được!- Ả Vằn nhà ông giáo!
Những ngày gần đây, vài con chó lối xóm trốn nhà đến chạy theo ve vãn Ả Vằn. Ả Vằn nhà ông giáo dạo này có vẻ mượt lông hơn và cũng thuận tình đón nhận những người bạn mới.
Bãi cỏ lập tức biến thành trường đua, sới vật của chó.
Đó là dấu hiệu dự báo biểu hiện con Vằn đến kì phát dục cần bạn tình để mang bầu sinh đẻ.
Chắc loài chó cũng có “kênh” tín hiệu riêng thông tin cho nhau, nên mỗi ngày chúng kéo đến một đông. Năm bảy con hợp thành đàn. Đốm, vàng, vá, mực, lem nhem…đủ màu sắc. Lông xù, lông mượt, cao cẳng, lùn chân, có cả lai Béc-giê, chó Phốc lon ton…đủ loại.
Vui mắt nhất và cũng rất ồn ả là vào tầm đầu buổi sáng và lúc chiều xuống. Đến giờ chó nhà được “xả trại” thả chạy chơi. Chúng tập trung đến rượt đuổi cắn xé nhau để giành độc quyền chiếm hữu Ả Vằn.
Có thế mới biết ở thành phố bà con ta cũng nuôi nhiều chó mà toàn là chó đực. Con Vằn bây giờ có mướt lông thơm thịt hơn. Dáng mốt thời đại-Mình ve chân dài. Dù có thế nào đi nữa, Ả Vằn cũng trở thành hoa khôi độc nhất trong đàn chó nơi bãi cỏ hoang.
Khi Ả Vằn được hòa nhập vào đàn chó cũng ham vui đáo để. Ả chạy nhảy, múa may tung tăng và rất đa tình.
Buổi sáng, Ả chạy theo chàng chó vàng lông xù lực lưỡng, có cái đuôi dài, mỗi khi chạy cong lên phất phơ như cái cờ bông lau. Buổi chiều nàng lại bám đuôi anh chó tơ chân cao, tai xừng, thân thon dài màu đen mướt rượt như nhung.
Hai chàng chó này thuộc loại “Sếp” đầu đàn, đẹp mã được Ả Vằn ưu ái. Hai “Sếp” thường hành xử với đồng loại ở gò bãi bằng thái độ rất gian hùng: Đến bãi là tỏ thái độ đại ca, ra oai thị uy ngay! Cậy to xác, các chàng lấy thịt đè người, tả xung hữu đột, rượt các chú chó khác chạy tan tác, rồi quay lại đón Ả Vằn dẫn đi mất tăm.
Mỗi chàng chó có cách cù rủ Ả Vằn rất khác nhau:
Chàng vàng đứng dạng chân đối đầu Ả Vằn và “khịt khịt” mấy tiếng, giương cái đuôi bông lau “phất cờ” ngoáy vài vòng, rồi chạy trước. Ả Vằn hiểu ý chạy theo ngay.
Chàng chó đen có vẻ ga lăng tình tứ hơn: Chạy lại le lưỡi liếm vào lỗ tai Ả Vằn “nói nhỏ” điều gì đó, rồi chạy quanh mấy vòng, lập tức Ả Vằn lượn theo song đôi đi mất hút.
Mỗi lần các chàng dụ dẫn được Ả Vằn là đi rất xa và rất lâu. Có khi đi mãi đến hết buổi mới quay lại. Khi Ả Vằn quay lại, mấy chú chó Phốc, chó cỏ bé con lon ton chạy theo chèo kéo. “No cơm chán chè” rồi, Ả Vằn làm lơ. Anh nào liều mạng trèo tót lên người, Ả Vằn hất xuống và quay lại nhe răng dọa.
Trời sập tối, chó nhà ai lần lượt về nhà nấy. Tủi thân cho Ả Vằn “hoa khôi”! Lại một mình lủi thủi nơi bãi cỏ hoang. Mặt mũi buồn xo, ngong ngóng vào nhà xe ông giáo.
**
Sau cả tuần rượt đuổi quần nhau thỏa thích, Ả Vằn có vẻ chán nản, mệt mỏi. Sự hăng hái và cuồng nhiệt chạy theo đàn cạn dần. Ả hay tách lẻ ra tìm chỗ vắng nằm nghỉ. Mấy chú đực rựa thấy Ả Vằn ở một mình liền xô tới. Không ưng thuận Vằn chống trả. Chúng hung hăng dở trò vũ phu. Không kháng cự được Vằn chạy về chui vào cố thủ dưới gầm xe ô tô.
Chỉ có gầm xe ô tô con nhà ông giáo thấp như thế mới là nơi phòng thủ an toàn nhất. Con nào muốn vào phải nằm bò xuống mới vào được. Có con đực đen khoang trắng hăng máu bò theo định kéo đuôi Ả Vằn lôi ra. Vằn co chân đạp một phát vào mặt. Nó bật ngược trở lại, đau quá cong đuôi chạy cời đầu.
Mấy đực rựa khác đứng lại loanh quanh hậm hực một lúc, coi bộ không xơ múi được gì đành bỏ cuộc, kéo nhau đi mỗi chàng một hướng.
Ả Vằn không còn mặn mà quyến rũ như trước. Hai chàng chó to con đẹp mã lãng dần rồi vắng hẳn. Mấy chú chó Phốc, chó cỏ còn lưu luyến mon men theo, thấy Vằn vẫn thờ ơ cũng bỏ đi nốt.
**
Sau cả nửa tháng về trong quê lo một số công việc của họ hàng, gia tộc trở ra, ông giáo hỏi thăm bà giáo nhiều việc. Riêng về con Vằn, ông tỏ ra sốt sắn hơn:
-Ở nhà mọi việc bình thường chứ, con Vằn thế nào rồi?
-May mà đợt này thằng Bon không đi công tác, ở nhà công việc mẹ con chia nhau làm. Mẹ phần việc quét dọn, con lo chim gà cây cối. - Bà giáo hạ giọng nhỏ xuống mà vui- Con Vằn à! Nó có chửa rồi ông ạ!
Ông giáo ngạc nhiên:
-Thế a! Sao bà biết?
-Suốt ngày, mấy con chó hàng xóm cứ bâu lấy con Vằn, tranh nhau inh ỏi ngoài bãi cỏ trước nhà. Có hôm chúng kéo nhau đi biệt cả ngày, mãi đến tối mới về. Cả tuần nay, con Vằn đi lại hơi lừ đừ chậm chạp, ăn ít có khi buồn nôn, lại hay nằm ngủ - Thấy ông giáo tỏ vẻ hoài nghi, bà giáo nói thêm - Sau hôm ông đi, tôi quét dọn nhà xe thấy chỗ nó hay nằm có dây những vệt dịch ươn ướt. Đó là “hiện tượng rong huyết” của chó. Chất dịch này có tác dụng phát hương xa đến vài ba cây số mời gọi bạn tình. Nếu được giao phối trong thời kì này, thì chắc chắn có thai ngay.
Ông giáo càng ngạc nhiên hơn thốt lên:
-Hóa ra chó cũng có những triệu chứng thai nghén như người à?!
-Sao lại không - Bà giáo giải thích thêm - Nó cũng là một cơ thể sinh học hoàn thiện của tạo hóa, trưởng thành đến kì là sinh đẻ để duy thì nòi giống. Đó là bản năng của tạo hóa ban cho. Khi có biến động khác lạ thâm nhập vào cơ thế lập tức phải có sự phản ứng tự nhiên để tự vệ, rồi thích nghi dần. Huống chi hiện có một mầm sống đang hình thành trong con Vằn - Một lần nữa bà giáo khẳng định - Con Vằn bây giờ không còn gì hấp dẫn nữa! Những con chó đực hay chơi với nó giờ xử sự bạc đãi lắm! Coi như xong nhiệm vụ truyền giống, chúng lãng xa dần, rồi “chạy làng” hết. Chắc chắn là con Văn chửa rồi!
Ông giáo nhìn vợ thẩm ý mỉm cười, gật gù thán phục:
-Am hiểu như một Bác sĩ thú y. Nghe bà nói tôi nghĩ chắc trước đây bà học Chuyên ngành Sinh vật chứ không phải Tổng Hợp toán.
Sẵn đà đang vui, bà giáo hào hứng kể tiếp:
-Từ hôm phát hiện con Vằn mang bầu, tôi hay quan tâm đến nó, năng ra vào trông ngó hỏi thăm. Tô cơm mang ít hơn nhưng thêm những món ngon. Nó vui vẻ dạn dĩ đón nhận, chứ không thờ ơ quay đi như mọi khi. Tôi đứng bên, nó vẫn ăn một cách tự nhiên. Khi đã ăn xong, con Vằn nằm xoải bốn chân ngước nhìn lên. Lần đầu tiên tôi nhìn sâu vào đôi mắt nó. Đôi mắt rất hiền và trong veo như mắt trẻ con ông ạ! Để tỏ ra thân thiện tôi đưa chân khều nhẹ vào hông. Nó vẫn nằm yên.
-Chịu theo bà rồi đấy! Dẫn nó vào nhà đi!
-Không chịu vào. Nhất định không. Tôi thử đưa tay kéo nhẹ. Nó vùng ra chạy ngay - Bà giáo chỉ ra phía nhà xe - Nó đang ngoắc đuôi chào ông đi xa mới về kia kìa.
Ông giáo đi ra cổng nhìn qua phía nhà xe. Con Vằn vẫn đứng vẫy đuôi như chờ đợi. Ông đưa tay ngoắc và nói “Lại đây với ông đi!”. Nó không tiến đến mà lại quay lui đi ra phía sau xe.
Mới đi có chừng ấy ngày trở về mà sự việc con Vằn ở nhà diễn ra khá nhanh như thế. Ông giáo cảm thấy lòng nhẹ lâng lâng. Lần hồi rồi con Vằn cũng trở lại bản năng của một con chó bình thường. Duy chỉ có một đặc điểm khác biệt: Không bao giờ vào nhà và cứ đứng xa mọi người, kể cả ông giáo. Chỉ có bà giáo- Một người có thể đến gần và sờ được vào con Vằn.
**
Con Vằn xuất hiện vào khoảng lập Xuân (đầu tháng Giêng ta). Theo như cách nhìn nhận và phán đoán của bà giáo, thì con Vằn đã chửa được tuần nay rồi. Chó mang thai trung bình chín tuần, khoảng sáu mươi ba ngày.
Đó là cách tính thời gian mang thai thông thường của chó nuôi trong nhà, chủ động cho phối giống. Chứ với chó chạy long nhong ngoài đường như Ả Vằn này thì mọi thứ cũng chỉ là “phỏng đoán” mà thôi! Con Vằn có thể đẻ vào quãng cuối tháng năm hoặc đầu tháng sáu.
Mỗi ngày con Vằn thêm quấn quýt với bà giáo. Đến bữa cơm là cứ luẩn quẩn ngoài nhà xe mong ngóng. Có khi khi bà giáo bận việc đem ra chậm, Vằn sang tận cổng đứng chờ, lấy chân cào vào cánh cổng sắt.
Nhà ở mặt phố, ngày thường hay khép cổng. Mép dưới cùng cánh cổng nhà ông giáo có hai chỗ bị bong sơn. Vệt mòn nhẵn hơi tròn tròn, là do khi ông giáo đi đâu về hay đá mũi giầy vào thay cho tiếng gọi cửa. Còn cái vệt trầy xước nham nhở bên cạnh, là chỗ con Vằn hay đến cào vào đó gọi ăn!
Bà giáo cũng đã tìm nhiều cách để dụ con Vằn vào nhà nhưng không thành, kể cả áp dụng kế sách “Chó đói tham ăn” cũng không được. Tô cơm thơm ngon để trong cổng. Con Vằn đứng ngay bên ngoài. Chỉ cách có gan tay, nhưng nó cứ đứng đó chờ đem ra. Bà giáo giả vờ quên đi vào nhà. Chờ hồi lâu không được Vằn bỏ sang nhà xe nằm.
Như con Vằn này thì đội quân đi đánh bã chó sẽ ngồi khóc. Chó tinh khôn không thể chết vì miếng ăn.
Bà giáo càng quan tâm lo lắng cho con Vằn nhiều hơn, đều đặn ngày cho ăn ba bữa cơm ngon. Vài ba hôm, bà lại ra quán bún mua về cho vài cục xương hầm; buổi sáng ra biển tập thể dục tranh thủ chọn mua cá tôm về kho riêng cho nó. Nhờ thế mà bây giờ con Vằn trông béo hẳn ra. Vùng bụng và bầu vú bắt đầu sà xuống.
Ông giáo thấy vui vui nói trêu bà:
-Bà chăm lo cho con Vằn có khi kĩ hơn chăm lo cho… chồng con!
-Nó không thể tự lo cho mình. Mẹ được ăn đủ chất, con đẻ ra mới khỏe, sức đề kháng cao, dễ nuôi - Gặp mấy đứa cháu trong nhà mang bầu ốm nghén lười ăn, bà giáo cũng thường hay nói thế.
Ngoài ra bà giáo còn chú tâm theo dõi cả sự phát triển tâm sinh lí hình thể của Vằn, rồi truyền lại kinh nghiệm cho ông.
Bà giáo nói chậm rãi rành rẽ như đang giảng bài:
-Khi thấy sự to nhanh, ộ ệ của vùng bụng và bầu vú như thế là con Vằn mang thai được hơn tháng rồi đấy. Phình to rõ rệt như thế chứng tỏ con Vằn chửa nhiều thai và có thể đẻ sớm. Còn chó mẹ mang ít từ một đến hai thai, bầu vú phát triển sớm và to nhanh hơn phát triển bụng. Người ta gọi là “chửa vú”. Ông hiểu chưa? - Ông giáo cũng chỉ à ơi qua loa thôi, chứ nghe những Vú, bụng, thai nọ thai kia… thì như “vịt nghe sấm”. Bà giáo lại giảng tiếp: - Có khi thời kì mang thai đến bảy mươi ngày. Chó có thể có sữa trước khi sinh bảy đến chín ngày. Tốt nhất là một đến hai ngày trước khi sinh mới có sữa. Màu sữa phải có màu trắng đặc trưng, không trong, vàng ố bẩn mới bảo đảm thai khỏe và sinh sản bình thường. Có sữa quá sớm là dấu hiệu của sảy thai hoặc đẻ non.
Ông giáo kinh ngạc về sự hiểu biết của bà giáo về chó mang thai, hỏi :
- Tại sao bà biết giỏi thế ?
- Tôi đến hỏi mấy cháu bên thú y, chúng nó giảng giải cho tôi.
Ngộ thật! Cô sinh viên Tổng Hợp toán năm nào ra trường dạy toán mấy mươi năm, lại thạo kiến thức thú y như thế! Ông giáo lại trêu chọc:
-Bà mà dắt được con Vằn này về nhà lo cho nó “Mẹ tròn con vuông” tôi sẽ đi xin đăng ký kinh doanh. Nhà mình trương biển hiệu “Trung tâm tư vấn thý y – Chuyên nuôi chó đẻ” nhé! - Sẵn đà vui ông giáo pha trò tới bến luôn - Nay mai có dâu, nhà này khỏi nhờ cậy đến bác sĩ Sản khoa!
Bà giáo nghe vậy khúc khích cười.


Chương VI. CHÓ MẸ VÀ ĐÀN CON ĐẺ RƠI

Từ tối hôm trước, con Vằn có biểu hiện ăn ít; đang nằm bỗng đứng dậy đi lại lòng vòng. Cả buổi sáng hôm sau nó bỏ đi đâu mất, đến bữa không về chờ cơm như mọi khi. Ông giáo tìm quanh thấy một nắm cỏ kho dưới gầm xe vò nhàu, lẫn ít mẩu thức ăn.
Qua trưa, con Vằn về với những bước đi khá chậm chạp. Bà giáo thấy bụng nó hơi sà xuống. Một điều rất hệ trọng sắp xảy ra với nó. Loài chó không thể hiểu được câu “Có chửa cửa mả!”.
Bà giáo lo lắng hối thúc ông giáo:
-Con Vằn có “hiện tượng dạo ổ” và “sụt bụng” rồi! Ông hãy tìm cái gì ra che chỗ nhà xe cho nó! Làm nhanh lên đi!
-Nhà xe của mình trống hoang trống hoác như thế thì biết che chắn kiểu gì? Đây là thời điểm thuận lợi nhất có thể đưa nó vào nhà được đấy. Nó chỉ tin mỗi mình bà thôi. Bà chịu khó ra dỗ nó!
-Không thể được. Con chó này kì quặc lắm. Diễn biến tâm lí rất phức tạp. Bây giờ nó sắp đẻ lại càng khó hơn. Mình cư xử không khéo léo, một khi cảm thấy bị dồn ép là nó bỏ trốn. Tội nghiệp nó đang bụng mang dạ chửa, lại sắp có cả đàn con nữa ông ạ!
Đứng dưới mái tôn giữa bốn trụ sắt trống hoang tứ bề, ông giáo đang nghĩ cách che như thế nào để vừa có chỗ cho chó lót ổ, vừa thuận tiện cho xe ra vào. Ông giáo nhìn ra thấy con Vằn cắn cỏ tha vào chỗ cái xác xe ô tô cũ để gần đấy. Cái xác xe hàng phế liệu, người ta kéo về bỏ đó lâu rồi.
Ông giáo chỉ chỗ và bảo bà giáo đi theo. Bà giáo theo chân con Vằn ra chỗ xác xe cũ xem. Bà rất cẩn trọng, không đường đột đi ra một mình, mà phải chờ theo chân nó. Trong thùng ca-bin xe kín đáo, có thể tránh được gió mưa, con Vằn đã tha cỏ về khoanh một cái ổ vừa đủ chỗ nằm,
Bà giáo trở vào nhà bàn chuyện lo cho con Vằn đẻ và dặn ông giáo:
-Con Vằn đã chọn được chỗ lót ổ trong xác chiếc xe cũ rồi ông ạ! Ta cứ để yên như thế, chờ nó đẻ xong, chó con mở mắt sẽ hay. Ông không được đụng vào ổ nó nhé!.
-Chuyện này bà nói thì tôi phải nghe theo thôi! - Ông giáo chau mày nghĩ ngợi, nói tiếp - Bà thấy con chó này khôn chưa? Phải nói là quá khôn! Chắc nó kịp nhận ra rằng, chỗ gầm xe nhà mình không phải là nơi kín đáo để sinh đẻ. Cái ô tô có thể chạy đi bất cứ lúc nào.
Những ngày này con Vằn không đi đâu xa, chỉ qua lại chỗ ông bà giáo khi đến bữa. Ăn xong nó trở về ổ nằm nghỉ. Nó cũng biết một điều hệ trọng sẽ đến với mình trong nay mai.
Vẫn như mọi ngày, sau bữa cơm, Bà giáo bưng cơm ra ngõ. Chắc con Vằn đang đợi ngoài đó. Nhưng… trưa nay con Vằn đi đâu mất rồi? Bà giáo đảo mắt tìm quanh. Không thấy nó. Mà lại thấy mấy người lạ lom khom bên cái xác xe cũ. Bà giáo chạy lại xem. Họ đang loay hoay mắc dây cáp chuẩn bị kéo đi.
Bà giáo chạy ngược vào nhà, gần như mếu nói với ông giáo:
-Ông ơi! Người ta chuẩn bị kéo cái xác xe ấy đi. Con Vằn sợ chạy mất rồi!
-Bà cứ bình tĩnh! Họ kéo cái xe chứ có chi mô mà táo tác như gà mắc đẻ rứa.
-Chứ ông quên là con Vằn sắp đẻ rồi à! Nó mất ổ! Như đàn bà chuyển bụng bị đuổi ra đường. Sao ông lại vô tình bảo “có chi mô”!
Bà giáo ngồi bịch xuống ghế vẻ mặt bần thần. Miệng lẩm nhẩm “Con chó nó hiền khô chứ có gây tội tình gì cho ai đâu mà gặp cảnh éo le như thế hè!”
**
Ngoài đường có tiếng động cơ ầm ì mỗi lúc một gần. Chiếc xe cần cẩu lù lù tiến đến. Cái xác xe cũ được na lên xe tải chở đi.
Ông bà giáo lật đật chạy ngược xuôi tìm con Vằn nhưng không thấy. Nó trốn biệt mất rồi. Bà con chung quanh biết chuyện lại xôn xao bàn tán về con chó. Có người nói đã trông thấy nó chạy ra, khi hai người kia đến sục vào chỗ chiếc xe cũ, nhưng không biết đi hướng nào.
Họ đâu biết nó sắp đẻ và đã lót ổ chỗ đó. Mọi người cũng tỏ lòng thương cảm và chia sẻ, “Hết sợ con chó sẽ trở về!”. Ông bà giáo cũng hy vọng như thế.
Suốt đêm hôm ấy gần như ông bà giáo không ngủ. Thỉnh thoảng ông giáo lại đi lên gác nhìn sang nhà xe dõi mắt trông đợi. Con Vằn vẫn biệt tăm.
Sáng dậy bà giáo ra nhà xe thấy tô cơm để từ tối hôm qua vẫn còn nguyên, nguội tanh. Con Vằn bỏ đi mất rồi! Bà giáo im lặng trở vào nhà. Mắt rưng rưng muốn khóc.
Ông giáo lại dạo quanh nghe ngóng tìm kiếm. Hỏi ai họ cũng lắc đầu bảo không thấy con chó nào giống như con chó ông mô tả. Ông giáo trở về trong nỗi thất vọng.
Về gần đến nhà, ông giáo đảo mắt vào lô đất còn bỏ trống cận bên nhà mình - Lô đất liền kề ngăn cách với nhà ông bằng một đường luồng thoát hiểm trong khu dân cư.
Chỗ mô đất cao dưới lùm cây rậm trong góc sát với nhà ông, hình như có ai vừa đổ một đống đất mới?
Ông giáo vạch cỏ lội vào xem, thấy một cái hang hàm ếch sâu và rộng do con gì vừa đào. Dấu chân còn mới rợi. Ông giáo đứng chống nạnh hết nhìn cái hang lại nhìn quanh, nghĩ ngợi linh tinh. Rồi ông tự hỏi mình và tự trả lời: “Con chi hè? Chuột cống a? Chuột cống thì không thể đào cái hang to như thế. Ở đây không thể có heo rừng hay cáo, chồn…Thế thì con chi đào hè?”.
-Bí hiểm…Đáng ngờ…Không lẽ… - Ông giáo nói lẩm bẩm trong miệng.
Ngồi xuống nhìn sâu vào bên trong hang, thấy có rác và vài manh áo quần rách, ông giáo bật ra một tiếng “à…!” rất dài, gọi với vào nhà:
-Bà nó ơi! Con Vằn về đào hang lót ổ ở đây này!
Nghe ông gọi bà giáo chạy ra hè nhìn sang, thấy cái hang là lạ chưa kịp hiểu là gì, còn ngờ ngợ. Khi nghe ông giáo giải thích rõ đầu đuôi mới vỡ lẽ ra.
Vẻ mặt bà giáo buổi sáng không cười mà vẫn tươi roi rói.
Ông giáo cảm thấy lòng mình nhẹ bâng, cứ trầm trồ khen ngợi:
-Con Vằn mà biết đào hang để đẻ là con chó cực không đấy bà ạ ! Giống chó hiếm có đấy nhé! Mình giữ lấy gien nhân giống.
Bà giáo nhìn quanh hỏi:
-Thế con Vằn đâu rồi ?
-Chắc đang loanh quanh đâu đó thôi. Bà thấy con chó này ghê gớm chưa? bụng sa ắp đẻ rồi mà một mình trong đêm moi được một cái hang như thế, còn tha đồ về lót ổ nữa. Sức lực phi thường! Bái phục! - Ông giáo đặt một chân trên miệng hang ướm thử nhún nhẹ, giọng phân vân lo lắng - Hình như không được an toàn lắm bà ạ! Chỗ cái hang này nguyên là đống cây khô đổ rác lên định đốt. Khi cánh thợ xây nhà mình dọn vỉa hè, làm biếng, sợ hao công. Họ không chịu chuyển đất cát thừa ra ngoài, mà đổ đè lên trên, tạo thành một mô đất gửi. Con Vằn mà đẻ trong này, chỉ cần một sự chấn rung nhè nhẹ. Mẹ con chúng nó bị… chôn sống như chơi.
-Ông nói thế làm tôi sợ - Bà giáo chuyển ngay sắc mặt, quay vội vào nhà. Một lúc bà lại quay ra nài nỉ - Ông hãy cố nghĩ ra cách gì giúp mẹ con nó đi chứ!
- Bà bảo tôi biết giúp con Vằn bằng cách gì được đây? Bây giờ mà mình đụng vào ổ. Nó tưởng mình phá lại bỏ đi nữa. Tìm không kịp chỗ vừa ý, không chừng nó đẻ rơi vãi con ngoài đường. Mình mang phải tội!
Vợ chồng ông giáo bàn tính mãi mà vẫn cứ lí bí. Đành phải nương theo tình thế “nhờ ơn trên” may rủi cho con Vằn và tìm cách đối phó.
Đến lúc này con Vằn vẫn sợ và xa lánh con người, chỉ biểu lộ tình cảm thân thiện với bà giáo. Và duy nhất chỉ có mỗi mình bà giáo mới tiếp cận được với nó mà thôi.
Cuối cùng, mọi việc giao cho bà giáo lo toan. Ông giáo coi như người đứng ngoài cuộc.
Biết bà giáo rất chu đáo trong mọi việc, nhưng ông vẫn căn dặn thêm:
-Bà phải hết sức kiên nhẫn chờ con Vằn trở lại. Đã đào được hang làm ổ rồi, nhất định nó sẽ về đẻ. Khi ấy có sự cố gì nguy cấp, thì giải cứu nhanh, may ra còn kịp.
Bà giáo đem việc nhà có thể mang theo ra chỗ bậc cửa hông trổ ra phía đường luồng ngồi làm, luôn tiện để mắt “mai phục” chờ con Vằn trở lại.
Tầm xế trưa con Vằn về. Bụng sà sát đất. Dáng đi khá mệt. Cúi đầu lê những bước nặng nhọc vào ổ. Đang đi, bỗng trông thấy bà giáo nó khựng lại. Bà giáo vẫy tay nói “Đang chuyển à? Sắp đẻ rồi phải không? Lại đây với bà đi!”. Con Vằn từ từ tiến đến gần. Bà giáo đưa tô cơm đã chuẩn bị sẵn. Nó khịt mũi ngửi và chỉ liếm láp qua loa vài miếng. Bà giáo đưa tay vỗ nhẹ vào lưng, con Vằn ngoan ngoãn nằm xuống bên cạnh. Bà vuốt tay từ bụng xuống bầu vú con Vằn, “sữa đã tiết ra đây nè, chuẩn bị đẻ đến nơi rồi, đừng đi đâu nữa nghe con!” - Bà giáo âu yếm nói với con Vằn như thế.
Bất thình lình, bỗng có mấy chếc xe máy chở theo người và dụng cụ đổ xịch trước đường. Người ta mang cuốc xẻng rìu rựa tràn vào lô đất. Ngay lập tức con Vằn vùng dậy hoảng hốt tháo chạy.
Bà giáo đến hỏi có chuyện gì? Họ nói rằng dọn dẹp mặt bằng để chuẩn bị mở móng xây nhà.
Chưa hết buổi chiều công việc dọn dẹp mặt bằng đã xong. Lô đất quang đãng sạch sẽ. Và cái hang của con Vằn tất nhiên bị giẫm sập!
Bà giáo lẵng lặng vào nhà sụt sịt nói với ông giáo :
-Người ta đến dọn đất san nền mở móng làm nhà. Cái hang của con Vằn bị đánh sập. Khốn khổ! Lại bị mất ổ lần nữa! Nó mang cái bụng lặc lè sắp đẻ chạy mất rồi ông ơi! - Nói đến đây bà giáo thút thít khóc.
**
Bà giáo rất buồn. Bữa cơm tối của ông bà luôn bị giáng đoạn bởi những tiếng động bên ngoài. Nghe tiếng gì khua là bà bưng bát chạy ra ngõ, cứ ngỡ con Vằn về.
Ông giáo tìm mọi lý lẽ động viên, quả quyết rằng tình trạng con Vằn như thế không thể chạy đi xa được, chỉ trốn đâu đó quanh đây. Nhưng bà giáo cứ trằn trọc suốt đêm, suy nghĩ luẩn quẩn rồi trách cứ lung tung.
Cái xác xe người ta mua về bỏ bãi, cần bán phế liệu họ phải kéo đi. Đất phân lô khu dân cư họ mua rồi, dọn dẹp khai móng là chuyện của người ta. Con Vằn tìm đến lót ổ đẻ người ta đâu có biết, đâu có cướp phá đánh đuổi mà qui là vô tâm, ác thiện cho thêm hao tâm, mệt lòng.
Nghĩ như thế, lý sự với bà giáo như thế, chứ thực tình ông giáo cũng có một điều gì đó đang lướng vướng, lấn bấn trong lòng cần phải giải thoát. Mỗi lần thức giấc ông lại lần lên gác mở cửa sổ tìm quanh. Tầm nhìn của ông giáo vẫn rơi vào màn đêm mênh mông vắng lặng.
Trong đêm khuya thanh vắng cần biết thấy bằng nghe. Ông giáo cảm nhận có một âm thanh gì đó mơ hồ, rất khẽ, mong manh và rất lạ, ở đâu đây rất gần. Linh tính mách bảo, ông giáo đến mở cánh cửa hông phía đường luồng.
Cánh cửa vừa được đẩy ra.
Ông giáo giật mình, suýt ngã.
Bóng con gì bất ngờ phóng vọt ra phía lô đất trống.
Quay trở lại lấy đèn pin ra soi, ông giáo giật thót lùi lại. Một cảm giác hơi rờn rợn run run lan tỏa. Một phút trấn tĩnh tinh thần, ông giáo bật đèn đến xem lại. Ông giáo thực sự run sợ đến hoa mắt, thốt lên nho nhỏ, “Trời ơi!” - Một đống lầy nhầy lúc nhúc vừa đỏ vừa đen đang ngọ ngoạy, phát ra những tiếng kêu ọ ẹ khẽ khàng.
Ổ chó con mới đẻ ông giáo đã thấy nhiều. Nhưng hình ảnh bọc chó con vừa lọt lòng còn trứng nước thế này…Lần đầu tiên ông giáo mới thấy.
Ông giáo vào nhà gọi bà giáo, nói khe khẽ giọng hơi run run:
-Con Vằn về đẻ sau hè rồi bà ạ! Còn máu me nhầy nhụa tùm lum ngoài ấy. Thấy tôi mở cửa nó bỏ chạy mất. Làm sao bây giờ ?
Bà giáo luống cuống lính quýnh muốn chạy ra. Nhưng nghe “máu me nhầy nhụa tùm lum” bà cũng sợ. Trấn tĩnh lại, bà giáo bấm điện thoại nói chuyện với ai đó.
Sau một lúc lâu “ừ ừ!… vâng vâng!”, bà giáo buông máy thở phào trấn an:
-Mấy cháu bên thú y bảo cứ yên tâm. Chó nhà đẻ mình mới can thiệp, còn đi hoang cứ để chó mẹ tự xử theo bản năng. Việc liếm láp (tắm rửa), cắn rốn, xổ nhau…nó tự làm hết. Mai xem cụ thể, có gì khó các cháu tư vấn cho.
Ông bà giáo thức luôn đến sáng. Nỗi lo ngay ngáy trong lòng. Sợ con Vằn quái chiêu, đẻ xong tha con đem giấu chỗ khác.
Nếu thật sự như thế, thì quá tội nghiệp cho lũ chó con đáng thương!


Chương VII. Ổ CHÓ CON

Đêm nằm nóng ruột và lo lắng. Mới mờ sáng, ông bà giáo đã dậy ra hè xem thử đêm qua con Vằn một mình xoay xở “vượt cạn” ra sao.
Điều kì diệu đến khó tin, ngoài sức tưởng tượng của ông bà giáo. Kết quả “mẹ tròn con vuông”. Bốn con cún đực, gồm hai vàng hai đen. Con nào ra con nấy, múp như quả chuối cau. Chúng ôm nhau ngủ vô tư, nhìn rất dễ thương như trẻ sơ sinh nằm trong lồng ấp.
Vừa từ lòng mẹ chui ra, môi trường sống hoàn toàn mới lạ. Vậy mà bốn chú cún con vẫn khỏe mạnh, ngủ say sưa trên nền đất lạnh. Chung quanh sạch trơn như vừa được quyét dọn lau chùi. Mẹ Vằn đã bỏ con trốn biệt.
Một chuỗi sự việc của con Vằn diễn ra từ hôm qua đến nay như những vệ tinh xoay quanh nhà ông giáo. Càng thể hiện thêm Vằn là một con chó tinh khôn và diễn biến tâm sinh lí quá phức tạp. Trong mắt con Vằn, vợ chồng ông giáo như một ảo ảnh: Xa mà gần, có mà không, tin mà ngờ…Và đến lúc thấy có điều gì kinh khủng sắp vỡ ra, con Vằn cần phải tìm về nương tựa.
Ổ chó con bên hè ông giáo là ngẫu nhiên, hay có sợi dây chắp nối vô hình của tạo hóa? Tự nhiên bà giáo liên tưởng đến những đứa bé sơ sinh bị bỏ rơi nơi cửa Phật. Tất cả đều là những sinh linh cần được cưu mang. Đó là mầm sống đang sinh sôi. Lòng người nhân từ cần mở cửa.
Con Vằn bỏ đi đâu? Đàn cún con không biết khóc. Nhưng chúng đang cần sữa me! Con Vằn có thể chạy trốn con người. Nó không thể bỏ rơi đàn con!
Người ơi đừng vội vàng trách cứ! Lo cho các con xong, Vằn còn phải lo cho mình. Rất có thể nó đang đi tìm một loại lá thuốc “thần dược” nào đó, chỉ để giành riêng cho chó mẹ sau khi lâm bồn. Và chỉ có loài chó hoang như Vằn mới biết!
**
Ông giáo vào nhà đem ra một cái thùng giấy các tông, lót vài manh áo cũ. Đàn cún được bỏ vào trong ổ. Bà giáo ngồi nhìn mấy chú cún say sưa. Chúng còn bé bỏng quá! Thương lắm! Nhưng bà chưa dám đụng tay vào.
Mọi việc ông giáo làm cẩn thận theo sự hướng dẫn của bà giáo: Phải để nguyên chó con tại chỗ, chó mẹ còn về cho bú và liếm láp làm vệ sinh cho chúng. Việc liếm vòng quanh của chó mẹ vào vùng rốn, bẹn và hậu môn còn có tác dụng kích hoạt sự vận động các cơ quan tiêu hóa và bài tiết ở chó con. Chó con mới đẻ, trong mấy ngày đầu chỉ có bú và ngủ. Sữa mẹ và nước bọt của chó mẹ có tác dụng giúp chó con tăng thêm khả năng đề kháng bệnh tật, chống chọi lại với những thay đổi phức tạp của môi trường.
Bắt đầu từ hôm nay, ông giáo tự nhiên thêm một số công việc nữa: Nuôi chó đẻ và chăm chó sơ sinh. Bảo mẫu của mấy cún con nữa trong tương lai ư? Chắc cũng là ông. Bà giáo trở thành người cố vấn đắc lực.
Công việc nuôi chó được ưu tiên đặt lên trước.
Đầu tiên là mấy chú cún con. Những ngày đầu chúng cứ ngủ li bì, tỉnh dậy đòi bú. Chó mẹ thì phải đợi đến tối mịt hoặc trưa vắng mới dám về. Hòa sữa đổ vào, chưa biết uống, chúng cứ bò lỗm nhỗm tìm vú đạp đổ tung tóe. Ông giáo phải mua vú cao su, bồng từng con cho bú bình.
May mà ổ chó này rất dễ chịu. Ngay từ khi đẻ ra không hề có một tiếng kêu. Ông giáo không phải tắm táp và lau dọn chuồng. Chó con đang thời kì bú, nên cái ổ mẹ nó liếm dọn sạch trơn. Mấy chú cún ngủ dễ thương vô cùng. Mắt nhắm tịt ôm quấn lấy nhau, chốc chốc lại ngọ ngoạy dũi chân co đạp. Miệng chúm chím mút như đang bú. Đôi khi chúng lật sấp lại cố ngóc đầu lên, nhưng cổ còn yếu quá vập đầu xuống ngủ tiếp. Hình như cún đang mơ!
Ông giáo tỏ ra hài lòng với công việc. Chăm chó sơ sinh lấn bấn mà vui. Đang ngồi trà nước với mấy ông bạn già, muốn về sớm ông giáo lội vội đứng dậy cáo từ. Một cách nói khá hài hước:
-Các anh rãnh việc cứ ngồi chơi. Em xin phép về cho… chó bú!
Với chó mẹ có khỏe hơn. Một tô cơm và một âu nước đem ra để cạnh ổ là xong. Bà giáo tăng lượng thức ăn nhiều chất bổ hơn cho con Vằn. Dù loài chó nhưng cũng là con mẹ đang trong thời kì sinh đẻ, nuôi con bằng sữa.
Mỗi lần nhìn thấy con Vằn đi qua, bà giáo lại than thở, “Con Vằn lon ton như cái xác chó biết chạy! Thương con chó mẹ gầy nhom. Bốn con cún ấy mà bú một lần là rát ruột”.
Thỉnh thoảng bà giáo mua xương về ninh cho con Vằn ăn, để đủ sữa cho con bú nhiều hơn. Vậy mà có hôm để cả ngày nó không thèm đụng tới. Hình như con Vằn này có một khoảng trời riêng ở đâu đó?
Con Vằn từ khi đẻ có sự diễn biến tâm sinh lí khác thường, trở lại nhác người. Đang cho con bú, thoáng thấy ông giáo là nó phóng chạy. Ngay cả với bà giáo, nó cũng e sợ không còn thân thiện như trước.
Khi chó con được tuần tuổi, ông giáo cho tập uống sữa. Ông bắt từng con dúi mõm vào chén sữa. Sữa dính vào mũi miệng chúng le lưỡi liếm. Cứ thế dần rồi bọn cún đói biết bò đi tìm sữa uống. Mắt chưa mở cứ quờ quạng, uống thì ít mà đạp đổ thì nhiều.
Cái được cái mất song đôi! Không phải cho chó con bú bình thì lại tốn công lau dọn ổ. Mùi đường sữa vương ra. Họ hàng nhà kiến đàn đàn lũ lũ kéo đến tấn công, làm khổ thân mấy chú cún.
Cả tuần lễ miền Trung nắng nóng dữ dội. Nhiệt độ ngoài trời có khi lên đến bốn mươi độ C. Con người ngồi trong nhà có quạt điện chạy vù vù còn không chịu nổi, bức quá phải vào phòng máy lạnh. Huống chi chó con ở ngoài hè nằm trên đất cát.
Bọn cún con liên tục kêu. Những chú cún con này mà kêu là nóng quá sức chịu đựng. Ngay tiếng kêu cũng khác, không “ăng ẳng” váng tai, mà chỉ rên “ư ử” nho nhỏ.
-Làm sao chống nóng chó chúng ông hè?-Bà giáo lo lắng hỏi.
Ông giáo cũng đang nghĩ đến điều ấy:
-Thông tin về cái điều hòa dã chiến và cực rẻ của sinh viên đang sốt trên mạng. Họ chế bằng thùng xốp, quạt “con ve” và ống nước nhựa. Hơi mát lấy từ đá cây trong thùng quạt ra. Nghe có lí, nhưng dây rợ lòng thòng và quạt, thùng… lích kích quá. Ta thử dùng gạch đi bà ạ!
Ông giáo mua gạch ống sáu lỗ về ngâm nước rồi xếp quanh; lấy gạch hoa kê cao làm nền; đặt lên trên một cái chậu nhôm cỡ lớn chứa nước làm mát. Thỉnh thoảng ông giáo tưới nước ướt nền và giữ ẩm cho gạch.
Mấy con cún hết kêu và ngủ yên. Ông giáo mỉm cười tếu táo tự khen mình:
-Một sáng kiến thực dụng và hữu ích vì đàn em thân yêu!
**
Khoảng độ hai tuần chó con bắt đầu mở mắt. Chú cún lông màu lam có những đường sọc đen giống chó mẹ, tuy nhỏ xác hơn nhưng mở mắt trước tiên - Đó là con cún đầu đàn. Cứ lần lượt mỗi ngày một con. Chú cún lông màu đen tuyền, to xác nhất lại là em út. Chú em mở mắt cuối cùng.
Chó con mới mở mắt trông hơi ngố. Đôi mắt mờ đục, mở ra rồi nhưng chưa nhìn thấy, lại thích đi. Bốn con cứ loạng quạng đi lại va vào nhau ngã lăn cù. Mấy ngày sau mắt cún sáng dần trong veo như những hòn bi ve. Bước đi vững vàng hơn. Chúng bắt đầu nhìn ngắm, a vào ôm nhau vật lộn, nô đùa chạy nhảy. Đổ sữa vào chúng tranh nhau uống. Con cún đầu đàn tuy nhỏ xác hơn, nhưng láu lĩnh nhất. Cu cậu nhảy vào tô sữa đứng dạng chân ngăn các con khác, uống một mình cành bụng mới đi ra nhường chỗ.
Rồi bọn cún chán sữa, chỉ liếm qua mà tập tò đòi ăn. Ăn rất mạnh và tranh ăn cũng dữ dội. Ông giáo phải sắm bốn cái tô nhựa màu sắc khác nhau để vào bốn góc chuồng và tập cho cún nhận biết, phân biệt cái tô nào là của mình. Những chú cún này khá thông minh nhận dạng màu sắc rất nhanh và chấp hành kỉ luật khá tốt. Đến bữa phần con nào con nấy ăn, ăn hết thì thôi chứ không xò mõm vào tô khác.
Bốn chú cún này quá dễ nuôi: Ăn no ngủ kĩ, lớn lên từng ngày. Cái ổ bằng thùng các tông không đủ sức chứa, không đủ độ cao nuôi nhốt. Các chú cún con bắt đầu bò ra ngoài đi lại, chui rúc lung tung.
Chó con đã biết ăn thì có thể cho tách đàn lẻ mẹ nuôi bộ được. Bạn bè đăng kí xin định đến bắt. Nhưng ông giáo nuốn để cho chúng nó bú thêm sữa mẹ một thời gian nữa. Không có loại thức ăn nào bỗ dưỡng hơn sữa mẹ.
Ông giáo lấy mấy tấm cót ngăn che một đoạn đường luồng làm chuồng. Nhưng phải chừa một cửa để con Vằn vào cho con bú. Phiền nhất là cho bú xong, con Vằn lại dắt bọn cún con ra ngoài chơi. Biết dắt con đi nhưng lại không dắt về. Nhiều lần ông giáo phải đi tìm toát mồ hôi mới bắt được từng con.
Bọn cún này mà đã ra ngoài là lẫn nhanh như chạch. Dòng máu hoang dã đang chảy trong cơ thể chúng, hình thành bản năng sinh tồn của loài thú đi hoang - Đi, ở không có tiếng kêu sủa, thích chui rúc bụi bờ, mũi thính như dơi và lẫn trốn rất nhanh.
Để ngăn chặn việc dắt cún con ra ngoài, ông giáo nâng bậc cửa chừa cho con Vằn lên rất cao. Một tấm ván làm cầu bắc qua cho nó đi vào. Từ tấm ván con Vằn có thể nhảy ra nhảy vào một cách dễ dàng. Cũng chỉ được mấy ngày đầu, sau đó tình trạng cún con lọt ra ngoài vẫn tiếp diễn. Kẻ đầu têu là con cún đầu đàn.
Ông giáo định chuyển ổ chó vào trong nhà, nhưng thấy chưa được. Bởi bọn cún con dù đã biết ăn, nhưng vẫn trong “giai đoạn đầu đời”. Chúng cần phải gần hơi mẹ.
Bốn chú cún đã biết ăn nên việc cho ăn dặm thêm khá nhẹ nhàng. Cơm nấu hơi nhão trộn với thức ăn thái nhỏ là được rồi. Cơm chia làm bốn bát tránh việc tranh giành nhau.
Nan giải nhất là ngăn chặn không cho chúng “vượt ngục” ra ngoài theo mẹ. Ông giáo tìm cách theo dõi xem chúng lọt ra bằng cách nào?
Ông giáo lên gác mở cửa sổ canh chừng. Đúng lúc con Vằn về. Nó đi qua tấm ván và một bước nhảy nhẹ nhàng vào ổ. Cho bú xong, con Vằn nhảy ra ngoài đứng chờ. Ba chú cún kia vào góc nằm gác mõm lên nhau ngủ.
Riêng chú cún đầu đàn cứ đi quanh, khịt mũi ngửi. Khi xác định được hướng có chó mẹ đứng bên ngoài, nó bắt đầu trèo:
Trước tiên, hai chân trước gác lên vách. Hai chân sau choãi ra sau đẩy thẳng lên, rồi đu người bám chặt vào vách như con nhện. Tiếp theo, một cái nhún điệu nghệ, hai chân trước đã bám vào mép trên cùng. Đồng thời hai chân sau đạp vào vách và làm động tác “kéo xà đơn”. Cún con vắt người qua mép tấm cót, giống như con khỉ đu dây. Con Vằn đứng ngoài xừng tai vẫy đuôi khích lệ. Cún con nghiêng ngó ước lượng khoảng cách, rồi cắm đầu lộn một vòng rơi “bịch” xuống đất. Vùng dậy… chạy.
Mọi việc diễn ra chỉ trong vòng một phút. Ông giáo đứng nhìn sững sờ như bị thôi miên trước cách vượt tường điêu luyện như một lính đặc công của chú cún đầu đàn.
Ông giáo ra chạy theo bắt cún đưa về ổ, tiện thể sờ thử bốn chân của nó. Bàn chân cún được cấu tạo một lớp cơ dày, mềm và nham nhám. Móng rất nhọn và cong về phía sau. Vì thế, nên ngoài khả năng chạy nhảy, cún con có thể bu bám leo trèo.
Được gần hai tháng tuổi, dáng vóc bốn chú cún con đã khá. Con nào con nấy múp míp, tròn ung úc như lũ heo con. Tính cách mỗi cún bắt đầu thể hiện rõ.Vai, trò quyền lực được hình thành trong đàn, rất hiếu kì về môi trường chung quanh, di chuyển khá tự tin, leo trèo chạy nhảy tung tăng và giữ thăng bằng rất tốt.
Cái chuồng bằng mấy tấm cót đơn sơ không thể nhốt mấy chú cún được nữa. việc trèo tường lộn xuống đất có khi là một trò chơi lí thú của chúng. Chỉ còn mỗi chú cún út đàn, xác to ục ịch quá nên chưa trèo được ra ngoài.


Chương VIII. LẺ ĐÀN

Nhảy xuống ao rồi ông giáo mới biết mình không thể bơi. Ông không thể làm bảo mẫu cho bốn cún con được nữa. Chúng như mấy đứa con nít lên ba, nghịch ngợm phá phách như quỷ sứ. Chỉ riêng việc giữ không cho chạy theo mẹ ra ngoài đã mệt nhoài như đánh vật, và chúng cũng đã gây ra lắm chuyện phiền hà.
Một người phụ nữ kiên nhẫn như bà giáo giờ cũng phải thốt lên rằng “cực hơn chăm bốn đứa trẻ”.
Ông giáo quyết định cho tách đàn. Lần lượt từng cún con một theo những người bạn của ông giáo về nhà mới. Chú cún con út đàn được giữ lại và đưa hẳn vào nhà, cách li luôn với chó mẹ.
Thời gian đầu tách đàn xa mẹ, chó con thường kêu rất nhiều, nhất là vào buổi tối. Cún con thèm nhớ mùi sữa, cảm thấy cô đơn thiếu hơi ấm của bầy đàn và mẹ. Cá biệt có con cứ kêu suốt đêm như cuốc lẻ đôi, kêu khan cả tiếng làm cả nhà mất ngủ theo.
Những chú cún con nhà ông giáo do mẹ Vằn đẻ ra không như thế. Cún nào về nhà ai cũng cứ im re. Ngay cả hàng xóm kề bên cũng không biết trong nhà có chó con. Điều đó không có gì lạ. Bởi đàn chó con này gần như bị đẻ rơi trên đất cát, không được mẹ ôm ấp bú mớm chăm ẵm hằng ngày. Tự thích nghi là bẩm sinh, không kêu sủa là bản năng tự vệ.
**
Cún con út đàn được đưa vào trong nhà. Ông giáo đặt tên là “Cún Đen” - gọi theo giống và màu lông đen tuyền của nó. Cún Đen được ở trong cái thùng các tông to, đặt dưới gầm cầu thang, nhằm cách li khỏi hẳn với con Vằn.
Ngày đầu tiên Cún Đen hơi buồn và hay nằm. Nó không khoanh tròn như những con chó khác, mà có cách nằm trông rất chán đời. Bụng ngửa phơi lên trời. Hai chân sau duỗi thẳng. Hai chân trước co lại, thỉnh thoáng ngúc ngoắc như đang tập bơi. Đôi mắt nhắm lim din nhìn ông giáo, như muốn nói: Ông cứ yên chí đi! Cún Đen xa mấy người anh em, không có ai chơi. Ở một chỗ lạ hoắc, nhìn thấy cái gì cũng lạ, chỉ có mỗi ông bà giáo là quen thôi!. Mẹ đi đấu mất, cả ngày không thấy về?
Ông giáo bỏ cho Cún Đen mấy thứ đồ chơi: Vài trái banh nỉ xanh đỏ đụng vào lăn tròn chạy vòng quanh rất vui mắt, một chiếc dép cao su để nhá, mấy cục xương để gặm khi buồn mồm.
Cún Đen cứ buồn buồn, không lo lắm. Quen dần nó sẽ lại chơi thôi. Ông giáo lo nhất là nó bỏ ăn. Cơm dẻo trộn với cá kho, thay một cái bát mới bằng thiếc bóng loáng mà nó vẫn cứ thờ ơ. Ông giáo đẩy bát cơm tới, Cún Đen thụt lui rồi ngước nhìn trân trân. Hình như nó muốn nói một điều gì, nhưng ông không thể giải mã được được.
Ông giáo gọi:
-Bà vào xem và “nghe” thử Cún Đen muốn nói gì đấy mà tôi không biết này!
Bà giáo đến đưa tay sờ thử, vút ve nó, nói nho nhỏ:
-Người nó vẫn mát, cái bụng xẹp lép thế kia nhất định đói lắm rồi mà không chịu ăn, chắc là có chuyện chi rồi ông ạ.
-Nghi có chuyện chi nên tôi mới hỏi bà. Bà hãy gọi hỏi mấy cháu bên thú y hỏi thử xem!
-Hỏi rồi! Mấy đứa bảo rằng, chó con mới lẻ đàn xa mẹ là thế. Ở ít hôm quen nhà, quen chủ là trở lại bình thường.
-Không ăn ít hôm chắc chết luôn!
Ông giáo chau mày nghĩ ngợi một hồi lâu. Ông nhớ chuyện con Vàng của Đội trinh sát, ở chiến khu năm xưa: Hằng ngày thức ăn của con Vàng đựng trong một cái nắp Ăng - gô màu cỏ úa. Hôm ấy ai đó thay bằng cái bát sắt tráng men “B52” của Trung Quốc, màu rằn ri. Con Vàng chỉ nhìn qua rồi bỏ đi.
Ông nói với bà giáo, giọng nghi ngờ:
- Hay là bà…Bà lấy bát cơm ấy ra đi!
Ông giáo bảo bà giáo lấy bỏ bát cơm cũ. Ông ra sau hè lấy lại cái bát nhựa màu xanh. Cái bát mọi khi vẫn dành cho nó, đem rửa sạch và thay cơm mới. Ông giáo vừa bê bát cơm tới. Cún Đen liền nhõm dậy vẫy đuôi. Bát cơm vừa đặt vào, cậu ta hơi lưỡng lự, tiến dần lại, ngửi “hít hít” vài cái rồi từ tốn ăn. Ăn hết trơn!
Đoán rằng ba cún kia chắc cũng có thể giống như Cún Đen. ông giáo nhắn cho mấy người bạn. Nếu cún con về có tình trạng bỏ ăn, thì tốt nhất nên quay lại nhà ông lấy cái bát cũ lâu nay dành riêng cho nó.
Ông giáo cười khoan khoái kể cho bà giáo nghe một câu chuyện:
-“Ngày xưa có một lão trọc phú ti tiện, giàu nức đố đổ vách mà lại hay đi ăn chực nhà người ta. Đến bữa, thấy nhà ai soạn bát đĩa chuẩn bị ăn cơm, lão ta giả vờ có một chuyện gì đó tình cờ đi qua ghé vào. Thấy khách đến nhà đúng bữa cơm, vì phép lịch sự tất nhiên chủ nhà phải mời xã giao thay cho lời chào “Cháu mời bác xơi cơm ạ!”. Thế là lão trọc phú ta xoa tay “Cám ơn!...Cám ơn!” rồi thản nhiên sà luôn vào mâm cơm đánh chén một cách ngon lành.
Một hôm, lão trọc phú đi ngang qua nhà ông giáo làng. Nghe tiếng chén đủa khua inh ỏi cùng với mùi chiên hành mỡ phả ra thơm nức mũi, lão ta quay lại ghé vào giả vờ hỏi xin nước uống.
Ông giáo làng ra đon đả mời chào chân tình:
-Quí hóa quá… Quí hóa quá…! Mấy khi Phú Ông quá bộ đến nhà. Trưa rồi, nhân tiện, bần dân kính mời Phú Ông dùng bữa trước đã. Có vị mặn mắm muối, rác miệng uống nước mới ngon ạ!
Không cần lời cảm ơn cho phải lễ, lão ta ngồi vào mâm ngay. Ông giáo sai con gái lấy một cái bát sành to xới cơm đầy đưa cho Phú Ông.
Trong khi Phú Ông bưng bát cơm ăn một cách tự nhiên như ở nhà mình, thì con chó Vện ngồi dưới đất cứ gầm gừ rồi gióng mõm lên Phú Ông sủa “Gâu Gẩu… Gâu gẩu…” liên hồi.
Phú Ông thấy thế ngạc nhiên và cũng hơi sờ sợ, hỏi:
-Tại sao con chó nhà thầy nó nhìn tôi và sủa dữ vậy?
Ông giáo làng nhếch mép cười, hơi líu lời có vẻ bối rối:
-Sơ suất quá…Sơ suất quá…! Mấy đứa nhỏ không để ý, nên lấy nhầm cái bát sành của…của con chó đem xới cơm cho Phú Ông. Con chó nó lên tiếng đòi lại đấy ạ!
Phú Ông tím mặt đứng dậy buông bát đũa ra về.”

Chương IX. TÌNH MẸ CON

Mấy lần về chuồng không thấy đàn cún, con Vằn cứ chạy loanh quanh tìm. Bắt đầu từ chuồng, nó dùng mũi đánh hơi ra mọi phía rồi cứ cắm mũi đi. Đi chán lối này, nó lại quay về đi hướng khác.
Rất nhiều lần, con Vằn hết đi luẩn quẩn trước cổng nhà ông giáo, lại qua nhà xe trông ngóng sang. Nó nghi con nó có thể ở trong nhà ông bà giáo, nhưng không dám vào.
Con Vằn lại trở về cuộc sống “chó hoang” như trước. Những bước chân chầm chậm vô định, khi trên vỉa hè, lúc ngoài bãi cỏ. Đến bữa lại về chỗ nhà xe ông giáo ăn, tối vào gầm xe ngủ. Người lạ bây giờ càng khó gần nó. Chỉ riêng với bà giáo, con Vằn lại bắt đầu có biểu hiện tình cảm khá đặc biệt. Sau khi mất con nó lại thân thiện và chịu gần bà giáo hơn.
**
Công việc vẫn như mọi khi, sáng dậy ông giáo ra quét cổng. Chỗ gốc cây trên vỉa hè có dấu vết đào bới mới rợi. Ông giáo đứng chống chỗi nhìn quanh nghi ngờ! Hình như có ai mới vừa chôn cái gì?
Vào tầm ông giáo ra quét ngõ hầu như chưa có ai dắt chó đi dạo. Rất lâu rồi không thấy con mèo nào xuất hiện quanh đây mà nghi “mèo đào dấu cứt”?
Ông giáo cẩn thận lấy que cắm thử chỗ vệt đất mới ấy. Qua cảm giác của bàn tay, hình như có một vật gì đó mềm mềm. Khều tiếp lớp đất mới ông giáo bất ngờ nhìn thấy một cái đầu gà luộc còn nguyên.
Một câu hỏi bất chợt hiện lên trong đầu ông giáo: Đêm hôm qua có ai đem cái đầu gà này “yểm” vào gốc cây?
Cái gì mình chưa biết, nên thận trọng vẫn tốt hơn. Ông giáo cẩn thận khỏa đất lấp cái đầu gà lại như cũ.
**
Cầu thang nhà ông giáo thiết kế cách điệu thành một gian giống thang máy, bằng kính chịu lực. Đứng chỗ gốc cây này nhìn qua cái khuôn bông vào trong vườn, có thể thấy lối lên gác vào gian bàn thờ.
Hơi hoang mang, nhưng ông giáo không dám nói lại với bà giáo, vì bà là người yếu bóng vía hay lo sợ vô hình.
Bị ám ảnh, bức bí bởi cái đầu gà ai đem “yểm” khi đêm, suốt cả buổi sáng ông giáo cứ nghĩ ngợi đủ chiều, tìm mọi cách lí giải nhưng không có lối thoát ra. Cố chợp mắt nghỉ trưa một lúc cũng không được.
Ông giáo có cảm giác bồn chồn, định đi lên gác.
Mới bước đến chân cầu thang, nhìn ra đường qua cái khuôn bông trên tường rào, bất ngờ ông giáo thấy con Vằn từ bên nhà xe chạy sang. Ông giáo nép người quan sát mọi cử chỉ của con Vằn. Trước tiên nó đi vòng quanh gốc cây ngửi, sau đó bám hai chân trước vào mép khung hoa văn, ngóc đầu ngiêng ngó nhìn vào bên trong.
Những gì ám ảnh bức bí trong ông giáo chợt vỡ òa tràn ra cùng với tiếng lẩm bẩm, “Của nó, chính nó, con Vằn ‘yểm’ cái đầu gà đây mà!”.
Ông giáo ngồi bệt xuống cầu thang cảm thấy lòng mình rân rấn xốn xang. Mãi một lúc lâu, không biết con Vằn rời đi từ lúc nào, ông giáo mới nói to cho bà giáo nghe:
-Bà nó ơi! Con Vằn biết có Cún Đen trong nhà mình. Nó đang rình ngoài kia, chắc mình phải trả con cho nó bà ạ!
Bà giáo chạy vội ra ngõ. Con Vằn đi đâu mất rồi?
Ông giáo dẫn bà đến chỗ gốc cây khều cái đầu gà lên, lại thấy thêm mấy cái chân gà nữa. Giọng ông giáo hơi nghèn nghẹn,vừa hỏi rồi giải thích luôn:
-Bà biết những thứ này ở đâu ra không? Của con Vằn đấy. Nó biết Cún Đen đang ở nhà mình, tìm được đồ ăn tha về nhẹm ở đây để dành cho con.
-Đúng như thế! Thật như thế hả ông? Tội nghiệp! Cái thân nó còm nhom như thế không lo, tìm được chút thức ăn thừa tha về để dành lo cho con - Giọng bà giáo cũng run run - Con Vằn này hình như không phải là loài chó ông ạ!
Ông giáo quay trở vào nhà bồng Cún Đen ra cổng. Ngay lập tức con Vằn xuất hiện ở nhà xe đứng đong đưa cái đuôi. Hai chân trước cào lia lịa xuống đất.
-Thấy con nó mừng ghê chưa kìa! - Bà giáo nói nhỏ và đánh mắt về phía ông giáo.
Ông giáo hiểu ý đi vào nhà.
Con Vằn chạy ngay sang. Cún Đen a lại húc mõm vào bầu vú lép xẹp của mẹ ngậm mút lia lịa. Nó nhè vú này ra, lại ngậm mút cái khác kéo rị xuống.
Hết sữa rồi! Con Vằn không nằm xuống cho bú như mọi khi mà cứ đứng luẩn quẩn dẫm chân, tì mõm đè Cún Đen xuống liếm láp vòng quanh từ đầu đến chân. Cún Đen khoái quá nằm lăn ra đùa nghịch với mẹ Vằn.
Bà giáo ngồi nhìn sa đà hai mẹ con Vằn và Cún Đen quấn quýt chơi với nhau. Lòng bà giáo như se lại. Bà giáo đang hồi tưởng về cậu con út. Hai mắt bà ngân ngấn nước đầy vơi.
Ngày xưa cậu út của bà cũng quấn rịt lấy mẹ như thế. Cậu bé lên lớp hai rồi mà mỗi buổi đi học về cứ sè sẹ mon men đến “sờ ti” mẹ. Bà giáo phủi tay lườm. Cậu ta hồn nhiên bảo rằng, “Mẹ kiết!”. Thương con thèm thuồng, có hôm bà giáo vạch áo. Cậu ta a vào ngậm “chụt chụt” vài cái. Nó cười hi hi, “no rồi”, bỏ chạy đi chơi!
Chơi đùa loanh quanh với con một lúc, con Vằn nằm xuống. Cún Đen nhào tới bập vào bầu vú. Con Vằn liền đứng dậy chạy qua đường, Cún Đen nhào ra theo. Bà giáo nhanh chân chạy theo bắt lại.
Bà biết ngay là con Vằn giở trò lừa định dẫn Cún Đen đi, liền chỉ tay nói:
-Mầy không được dẫn con đi. Người ta sẽ bắt mất con của mầy đấy!
Nói xong bà giáo bồng Cún Đen quay vào nhà và khép cổng lại. Con Vằn lủi thủi đi sang bên kia đường đứng nhìn lại một lúc lâu. Không thấy Cún Đen trở ra nó mới bỏ đi.
Từ đó, mỗi ngày hai lần sáng và chiều Cún Đen được cho ra cổng. Con Vằn chờ sẵn ở đâu đó. Hai mẹ con chạy lại quấn quýt chơi đùa với nhau dưới sự giám của bà giáo. Khi bà giáo bận việc gì, ông giáo bồng Cún Đen ra, nhưng phải thả ở một khoảng xa xa con Vằn mới dám tới. Ông giáo gọi con Vằn là “Con chó xấu tính thù dai”.
Con Vằn chỉ được chơi với Cún Đen trong phạm vi vỉa hè trước nhà ông giáo. Tuy nhiên cũng có khi ông bà giáo mãi lo công chuyện quên để ý là Cún Đen chạy theo con Vằn ngay. Nhưng khi nghe tiếng quát “Không được sang đường. Cún Đen! Quay vào nhà ngay!”. Huấn luyện mãi rồi Cún Đen biết vâng lời, lập tức đáo ngược lại và phi thẳng vào cổng đứng nhìn ra. Con Vằn lầm lủi lãng đi và hiểu rằng thời gian mẹ con gặp nhau đã hết.
**
Như mọi buổi sáng, khi bà giáo mở cổng Cun Đen tuôn chạy ra. Quen quá rồi, nó chỉ chờ có thế. Hôm nay ra cổng không thấy con Vằn chờ sẵn như mọi khi, mà lại nghe có tiếng gầm gừ rất lạ. Cún Đen ngơ ngác “khịt khịt” vài tiếng rồi vội vàng lui ngay vào cổng.
Cún Đen đã thính mũi. Nhất định có chó lạ! Chó nhà ai? Phải là một con chó già và to mới có tiếng gầm gừ trầm đục như thế.
Bà giáo phán đoán đúng. Nhà hàng xóm bên cạnh mới dắt về một con chó màu đen rất to. Mặt mũi vằn vện trông rất dữ tướng.
Từ trước đến giờ, bà giáo chưa từng thấy con chó nào to, dữ dằn, có bộ lông dày và dài như thế! Trông nó giống hệt con gấu.
Bà giáo đến hỏi thăm bà chủ mới biết đó là con Alasca Malamute - Giống chó kéo xe nổi tiếng vùng Alaska ở Bắc cực thuộc nước Mỹ. Giống chó tuy to, nhìn dữ tướng như thế nhưng lại rất hiền lành, yêu thích trẻ con, dễ hòa đồng với các con vật nuôi khác. Đặc biệt rất thích lao động kéo xe. Khi có đà nó có thể kéo một chiếc xe mô tô chạy một khoảng dài hàng chục ki-lô-mét.
Thấy bà giáo còn đứng ngoài nhìn con Alaska, Cún Đen chạy trở ra mon men tới. Cũng là lúc con Alaska tuột xích khỏi tay bà chủ. Nó chạy đến, mới vừa dùng hai chân trước đè Cún Đen (nó chỉ muốn nghịch chơi thôi). Bỗng đâu con Vằn lao vút như mũi tên cắm “bập” thẳng vào con Alaska. Cả hai con vật cùng ngã lăn quay ra hè. Con Alaska to phải gấp năm lần con Vằn.
Bị một đòn phi thân đánh phủ đầu, Alaska kinh hoàng vùng dậy tháo chạy. Con Vằn cũng biến mất.
Chao ơi! Bản năng tự vệ của con Vằn thật đáng khiếp sợ. Một hành động dũng mãnh phi thường, sẵn sàng phi thân biến thân mình thành vũ khí tấn công kẻ thù để bảo vệ con.
Thấy tình cảnh con Vằn với Cún Đen như thế. Sự thương yêu da diết, ràng buộc gắn bó mẹ con, cũng là núm ruột cắt ra từ máu thịt như con người. Nhiều lần ông bà giáo muốn để con Vằn tự do dẫn Cún Đen theo. Đi chán, khi đói chắc nó lại tìm về. Nhưng suy tính đắn đo mãi, ông giáo thấy không thể được.
Nhất định Cún Đen sẽ bị bắt. Một cún con dễ thương như thế không bị người ta bắt mới lạ. Bản tính con Vằn nhát người như vậy không thể bảo vệ được con.
Rồi con Vằn sẽ nuôi Cún Đen như thế nào?
Đối với con Vằn, mưa gió lạnh lùng tấp vào đâu cũng được, đói khát triền miên nhặt nhạnh được gì ăn nấy. Cạm bẫy rập rình biết tìm đường thoát thân… Bởi vì nó đã đi hoang lâu rồi. Sức đề kháng phi thường. Sương gió chai lì. Nên nó mới tồn tại được như thế cho đến nay.
Còn Cún Đen, tuy bụ bẫm lanh lẹ nhưng vẫn còn đang là giai đoạn đầu đời, lại được nuôi dưỡng trong nhà. Khả năng đề kháng yếu ớt, khó thích nghi được với môi trường hoang dã. Chỉ cần ăn một vài mẩu thức ăn thừa do con Vằn tha về từ bãi rác là có thể nhiễm bệnh “viêm ruột cấp”. Khi mắc phải bệnh này rất khó chữa, lâm vào thể nặng có thể chết trong một thời gian ngắn.
Ông bà giáo quyết định cứ duy trì tình cảnh conVằn với Cún Đen như thế. Đến một giai đoạn nhất định, khi Cún Đen trưởng thành biết sống độc lập. Mối quan hệ mẹ con tự nhiên sẽ nhạt dần. Mỗi con vật sẽ trở về cuộc sống riêng của mình. Con Vằn không thích vào nhà thì cứ đi hoang. Cún Đen là chú chó được thuần dưỡng trong nhà ông giáo.
**
Vào một ngày cuối năm, ông giáo chuẩn bị về quê dự đám chạp mả, tu sửa phần mộ ông bà. Chắc là cả nhà đi vắng suốt ngày.
Cún Đen được ra ngoài chơi sớm hơn, sau đó sẽ đem vào nhốt lại trong cũi. Đồ ăn cả ngày đã để sẵn. Cún Đen mà để ngoài ở nhà một mình nó phá ghê lắm, gặp gì cắn nấy. Nó sẽ bới tanh banh mấy khóm hoa ngay. Con Cún nào cũng thích gặm nhấm cắn xé và chui rúc lung tung . Có khi cắn nát một chiếc dép là một việc làm tốt cần báo công, tha lại vung vẫy khoe trước chủ!
Sắp xếp xong đồ đạc, chuẩn bị khóa cổng ra xe, ông giáo quay lại tìm Cún Đen. Nó đi đâu rồi?
Cả nhà chia nhau đi tìm. Không thấy!
Ông giáo chạy đi quanh một vòng nữa, hết réo gọi “Cún Đen!”, đến vỗ tay ra hiệu “Cún Đen về gấp!”. Vỗ rát tay cũng không có.
Ông giáo quay lại nói hơi bực bội:
- Nó biến mất tăm rồi. Con Vằn này cáo thật! Đúng như bà nói, “Nó không phải là con chó”. Biết lợi dụng sơ hở, trong khi mọi người đang lấn bấn không chú ý đến, nó lẽn vào dẫn con đi - Ông giáo phẫy tay dứt khoát - Thôi! Không phải tìm nữa! Mặc xác chúng nó! Chạy đi! Quá trễ rồi!
Trên đường về quê, ông bà giáo cứ áy náy hoài việc để Cún Đen ở ngoài theo con Vằn. Xong việc trong quê, ông giáo hơi sốt ruột hối thúc mọi người về sớm.
Xe vòng qua ngã tư rẽ vào nhà, ông giáo nhìn thấy hai mẹ con Cún Đen đang lúi húi bới đống rác ven đường.
Thấy ông bà giáo xuống xe Cún Đen lủn đủn chạy về vẫy đuôi mừng rơn. Toàn thân lấm lem như vừa chui từ đống rác ra. Mõm còn gắp một mẩu thức ăn thừa đã khô cong.
Bực bội quá, ông giáo định cho ngay Cún Đen một cú đá, nhưng may mà kìm lại được. Thấy nó lấm lem luốc, mừng rỡ vô tư. Ông giáo vừa giận vừa thương. Cún Đen như một đứa trẻ con thơ dại háu đói. Ai cho gì ăn nấy.
Mọi nóng giận ông giáo “trút” về phía con Vằn một cục gạch kèm theo câu chửi:
-Cút đi đồ hoang dại thối thây! Từ nay mầy đừng bao giờ bén mảng tới đây nữa nhé!
Mắng nhiếc đánh đuổi con Vằn là trút giận hờn oan cho nó. Tình thương ấy chỉ là bản năng nuôi con của muôn loài. Việc làm vì thương con của nó cũng đồng nghĩa với cách gián tiếp giết chết con mình! Là con vật, nó đâu có biết!
Ông giáo đứng bần thần nhìn Cún Đen quấn quýt quanh chân, linh cảm một chuyện không lành sẽ đến với nó. Dự đoán biết trước, ngăn chặn rồi mà không được. Ông giáo vào nhà ngồi thừ ra. Ông ân hận!
Bà giáo bắt Cún Đen đem đi tắm, lấy máy sấy tóc sấy khô, rồi đổ một ít thức ăn ngon mang từ đám giỗ về. Cún Đen chỉ đến ngủi ngửi rồi khoanh chân nằm nhìn chứ không ăn. Chắc nó cũng biết lỗi, còn sợ!
Ngày hôm sau, buổi sáng Cún Đen còn chạy ra ngoài chơi bình thường. Bữa trưa nó có dấu hiệu lơ cơm và hơi mệt mỏi, đến tối thì nằm hẳn bỏ ăn thực sự. Những lát thịt luộc là món khoái khẩu nhất của nó, bỏ vào vẫn không đoái hoài đến.
Ông giáo tức tốc đưa Cún Đen đến thú y tiêm thuốc.
Cả ngày hôm sau Cún Đen không khá hơn mà lại nôn và đi ngoài ra nhiều giun li ti. Bác sĩ thú y chẩn đoán “Bị ngộ độc thức ăn nặng và viêm ruột cấp!”, phải tiêm thêm hai mũi thuốc nữa.
Bác sĩ thú y cảnh báo trước rằng: Chó mới hai tháng tuổi mà phải chỉ định dùng đến liều thuốc cao như vậy. Theo dõi tiếp, nếu thấy không có sự chuyển biến khá hơn, thì coi như khó cứu chữa.
Đến tối ngày thứ ba Cún Đen mệt lả. Mắt lờ đờ. Sờ người thấy nóng hâm hấp. Miệng chảy nước dãi nhiều. Nó cố sức bò ra vườn đào lỗ nằm sấp xuống đất. Chắc đang có những cơn nóng như thiêu đốt trong bụng. Nó đang tìm cách truyền nỗi đau xuống đất. Ông giáo bỏ ngỏ cổng để con Vằn vào với Cún Đen, nhưng nó cứ lãng vãng bên ngoài.
Thấy sức lực Cún Đen có vẻ cạn dần, bà giáo nói chậm rãi giọng rất buồn gần như sắp khóc:
-Mấy cháu bên thú y nói đúng ông ạ! Vẫn cứ tình trạng như thế thì không cứu chữa được nữa rồi! Ông đem ra trả cho mẹ nó đi! Để mẹ con nó còn được có nhau lần cuối!
Ông giáo bồng Cún Đen ra để chỗ nhà xe.
Con Vằn chạy đến liếm quanh Cún Đen. Với chó sơ sinh, trong nước bọt của chó mẹ có chứa những chất đề kháng nhiễm khuẩn công hiệu, giúp chó con miễn dịch được một số bệnh. Cún Đen đã hai tháng tuổi rồi, liệu nước bọt của con Vằn còn có tác dụng gì không?
Ông giáo nuôi một tia hy vọng mong manh: Biết đâu con Vằn sẽ tìm ra một chất “thần dược” nào đó cứu được con mình!
Con Vằn sống lang bang lay lắt cả năm ngoài trời, ăn uống những thứ ôi thiu như thế mà không làm sao hết. Cún Đen mới chạy theo mẹ có một ngày mà đã đến nông nổi này!
Đêm ấy giấc ngủ đến với ông giáo chập chờn. Sáng dậy sớm ông giáo ra đẩy cổng định đi thẳng ra chỗ nhà xe. Nhưng hình như có cái gì vương vướng bên ngoài, lại thấy bóng con Vằn lướt qua lượn lờ bên nhà xe. Ông giáo đẩy mạnh thêm một chút. Cánh cổng hé mở đủ để ông lách người qua.
Ông giáo buông tay đứng sững sờ. Cún Đen nằm bất động, vẫn cách nằm sấp choải thẳng bốn chân rất đáng yêu.
Ông giáo bồng Cún Đen lên. Người nó còn âm ấm. Hơi thở yếu ớt. Đôi mắt mở đục ngầu. Toàn thân lạnh dần rồi mềm oặt!
Cún Đen vừa tắt thở!
Chắc là khi đêm đau thắt ruột từng cơn và mệt lả rồi, Cún Đen cố sức bò về nhà với ông bà giáo, nhưng cổng đóng không vào được.
Trước mắt ông giáo tất cả mọi vật nhòe đi. Bà giáo chạy ra ngồi ôm mặt khóc rưng rức!
**
Ông bà giáo gói Cún Đen cùng với tất cả những áo khăn, đồ chơi… và những vật dụng dùng cho nó đặt vào cái thùng các tông, đem ra chôn giữa bãi cỏ trước nhà. Và đắp thành một mô đất giống hình nấm mộ.
Có người đến mách bảo ông giáo là chó chết không được chôn, mà đem vất ra ngoài gò hay bãi rác. Nếu chôn sau này không thể nuôi chó được nữa.
Đó có thể đó là kinh nghiệm của một số người, không có cơ sở khoa học để tin. Ông giáo cứ làm theo sự mách bảo của lòng mình.
Bà giáo lặng thầm ra thắp nén hương cắm trên mô đất. Đôi mắt bà buồn hơn buổi chiều sau cơn mưa!
Không có Cún Đen nhà ông bà giáo buồn hẳn, như thiếu vắng mất một người. Nhất là bà giáo, nỗi buồn hiện ra mặt và sẽ ngấm rất lâu.
Ở con Vằn có dáng đi buồn và khuôn mặt buồn là muôn thuở. Nhưng nỗi buồn khi mất con của nó cũng dễ nhận thấy: Bây giờ nó không đi đâu xa, chỉ quẩn quanh ở bãi cỏ, thường đến nằm cạnh chỗ mô đất ông giáo chôn Cún Đen. Chỉ lúc nào đói mới lần về chỗ nhà xe ông giáo. Bà giáo vẫn thường xuyên để cơm ở đó.
Một hôm có người mách cho ông giáo rằng, trông thấy con chó mẹ đến moi chỗ ông chôn con cún. Ông giáo đến xem thấy đúng như thế. Một cái ngạch đào xuyên vào mô đất.
Con Vằn hay bất một con thú ăn thịt nào, dù cố công đào bới cũng không thể tìm được đến nơi. Khi chôn Cún Đen, ông giáo đã lường trước, nên đào hố rất sâu, sau lớp đất khỏa lấp đầu tiên, còn trải thêm một lớp gạch đá rồi mới lấp hẳn lại.
Người này nói là chó mẹ quá xót thương, đào bới tìm lại con. Người kia lại bảo rằng, loại chó mèo hễ ngửi thấy mùi hôi thì tìm đến kiếm ăn.
Đó là cách suy đoán khác nhau của người đời. Không cần phải luận bàn. Dù con vật được sinh ra cũng thoát thai từ lòng mẹ, cứ để cho sự thành tâm mách bảo đúng sai.

Chương X. NỖI LÒNG NGƯỜI MẸ

` Mới có một quãng thời gian quá ngắn, chưa thể làm cho khu vực ngã tư Nguyễn Thị Thập-Ngô Đức Kế thay đổi. Phố xá, nhà cửa, đất đai, con người…vẫn y nguyên như thế. Kể cả Ả Vằn nhà ông giáo vẫn giữ ngôi “Hoa khôi” của loài chó.
Duy chỉ có một sự khác biệt, mà cũng chỉ mỗi mình bà giáo biết mà thôi: Điều gì đến phải đến. Ả Vằn đã mang thai lần nữa! Và hình như “tác giả” vẫn những chàng chó cũ, là bạn tình của Ả Vằn trước đây.
Con Vằn mang thai lần này có nhẹ nhàng hơn lần trước. Thân hình bớt gầy. Dáng dấp sinh động hơn, với những bước chạy ngắn, nhanh chứ không não nề đo đếm buồn rầu như mọi khi. Lần sinh nở thứ hai có khác. Ông bà ta thường nói “đẻ nhiều quen dạ”. Câu nói ấy không chỉ với con người.
Sau khi mất Cun Đen, bà giáo dành sự quan tâm cho con Vằn nhiều hơn - nhất là từ khi biết nó mang thai lần nữa.
Mỗi lần thấy con Vằn cứ cắm cúi đi lang thang đơn độc, bà giáo thấy ái ngại trong lòng. Thương con Vằn và bà giáo cũng tự trách mình - Một tình thương chưa trọn vẹn. Bà giáo có tâm trạng đã trót bỏ rơi con Vằn và đàn con lần trước của nó!
Trong thâm tâm, lần này bà giáo muốn bù đắp những mất mát cho nó. Dù là con chó hoang, nhưng cũng là một thân phận như con người! Và con Vằn cũng đã xem bà giáo là người đáng tin cậy của nó.
Một lịch trình sinh học khá chuẩn được thiết lập. Con Vằn dạo này cũng tỏ ra ngoan và biết vâng lời. Cứ đến giờ bà giáo bưng cơn ra chỗ nhà xe là con Vằn đến. Ăn xong nó ngồi chống chân nghỉ, hai tai gióng lên khi bà giáo nói. Chắc là con Vằn nghe hết từng lời nhưng chẳng biết có hiểu được gì không!?
Khi bà giáo đứng dậy đi vào nhà, thì con Vằn cũng quay lưng trở ra bãi cỏ.
**
Gần đây, trên bãi cỏ hoang, người ta chở đến chất thêm hai đống gỗ cốp pha to đùng. Ý định để lâu ngày, nên các ông chủ đặt đá móng kê đà rồi chất lên gọn gàng, chắc chắn và lợp mái che mưa nắng.
Vậy là con Vằn có thêm vài chỗ ở nữa. Với nó chỗ nào che mưa tránh nắng được là nhà. Bây giờ hằng ngày con Vằn không nằm ở gầm xe nữa. Hai đống gỗ cốp pha ngoài bãi mới là chỗ trú ngụ kín đáo và an toàn hơn.
Con Vằn chọn đống gỗ cốp pha gần nhà xe ông giáo để ở. Nó đào một đường hào thông từ bên này sang bên kia. Đường hào rộng và sâu. Một chú bé con có thể bò qua một cách dễ dàng.
Nhờ nền đất cát mềm, nên việc đào bới của con Vằn khá nhanh. Hai chân trước moi, hai chân sau đá lia lịa như một cái máy. Cát bắn ra tung tóe. Con Vằn lún sâu dần. Lúc đầu đào cái hục, rồi con Vằn cứ nhủi dần tới thành đường hào.
Dưới gầm đống cốp pha đã kín, lại đào thêm một đường hào? Chỉ có bản năng tự vệ đặc biệt. Sự diễn biến tâm sinh lí phức tạp, luôn sống trong lo sợ gần con người và sẵn sàng trốn chạy, đã hình thành vết hằn sâu trong con Vằn. Cho nên nó mới biết tạo ra một lối đi riêng cho mình - Xuyên ngang dưới mặt đất.
Dù con Vằn nhận biết rằng, ông bà giáo là những người có nhiều tình cảm yêu thương, từng chăm lo cưu mang mẹ con nó như người chủ. Con Vằn nhận biết tất cả bằng giác quan bẩm sinh của loài chó. Nhưng dù sao đi nữa, nó vẫn sợ thế giới loài người.
Nên…
Vẫy gọi nó không đến.
Níu kéo nó buông tay.
Mở lòng bao dung nó hoài nghi soi xét…
Bởi đôi bờ ngăn cách giữa con Vằn với Người còn khá xa.
**
Con Vằn mang thai lần này bà giáo theo dõi rất kỹ. Khi thấy nó bắt đầu béo ra, vòng bụng phát triển và bầu vú có dấu hiệu sà xuống, bà giáo đánh tiếng cho ông giáo:
-Con Vằn mang thai tuần thứ năm rồi ông ạ! Có thể cuối tháng này nó đẻ. Mình lùi cái xe ra chừa một khoảng, ngăn lại cho nó có chỗ lót ổ.
-Việc rất giản đơn chỉ trong ba mươi giây. Mấy tấm cót lần trước còn đó, khi thấy nó bắt đầu dạo ổ làm là vừa - Ông giáo có vẻ hơi chần chừ - Như lần trước, con Vằn có đẻ trong nhà xe đâu.
-Phải đề phòng trước ông ạ! Tôi thấy nó chui rúc nhiều nơi, chắc đang đi tìm chọn chỗ đấy.
Ngày hôm sau ông giáo làm ngay, lùi cái xe, buộc mấy tấm cót, nhoáng một lúc đã xong. Ông cẩn thận lót thêm mấy tấm các tông xuống sàn, còn định bỏ thêm cái thùng giấy và mấy cái áo cũ nữa. Nhưng bà giáo bảo không cần. Chó đã đi hoang thường không dùng ổ chuẩn bị sẵn.
**
Mới qua vài ba tuần mà vùng bụng con Vằn phát triển khá nhanh, chắc mang nhiều thai. Bầu vú bắt đầu sà xuống. Dáng đi nặng nề… Là những dấu hiệu cho biết khả năng đẻ sớm.
Thấy con Vằn ăn ít dần rồi bỏ ăn hẳn. Dáng đi có vẻ la lết ộ ệ. Tiếng thở nặng nhọc…Đó là biểu hiện “sụt bụng” sắp đẻ.
Sắp đẻ mà sao mấy hôm rày không thấy “hiện tượng dạo ổ”? Bà giáo thắc mắc và chú ý theo sát con Vằn.
Bóng chiều nghiêng xuống phố.
Những tia nắng cuối ngày vừa tắt.
Điện đường chưa kịp sáng.
Trong lúc nhá nhem chạng vạng tối. Ngày chưa hết, đêm chưa xuống.
Chỉ một lúc lơ đãng của bà giáo…
Con Vằn đã biến mất!
Bà giáo nháo nhác tìm quanh không thấy. Soi vào những đống gỗ cốp pha nơi con Vằn hay ở, không có dấu vết, chỉ thấy một đường hào trống không.
Quái lạ! Một con chó bằng xương thịt hẳn hoi chứ không phải cái bóng hay cơn gió?
Suốt ba ngày ông bà giáo bỏ cả công chuyện, chạy đôn đáo tìm kiếm, lùng sục nhiều nơi. Nhưng con Vằn vẫn biệt tăm.
Bà giáo cứ bần thần ra vào than thở, trách hờn như người rối trí:
-Bị ai bắt mất rồi! Kẻ nào tà tâm độc ác thế hả trời! Một con chó mang thai đến ngày sắp đẻ! Lần trước tại người ta phá ổ nó phải bỏ chạy. Lần này con Vằn vừa mới ngồi với tôi đây. Hay là nó thấy ông đi uống lai rai về, nửa tỉnh nửa say, sợ quá nên bỏ chạy?
-Chắc nó đi đẻ rồi! Để từ từ tôi tìm - Ông giáo nói cộc lốc.
-Đẻ rồi! Nói như xiếc! Biết nó lót ổ ở đâu mà tìm?
Với bà giáo, việc con Vằn biến mất, không những lo lắng mà rơi vào tâm trạng hoang mang thực sự.
Bình thường, một ngày không nhìn thấy con Vằn là bà giáo lo có ai hại nó. Khó mà bắt được, nhưng bọn nó có thể đập hoặc bắn điện giết chết nó. Khi thấy con Vằn chạy về bà giào mừng rỡ như được đón đứa con đi xa.
Con Vằn không vào ở trong nhà, nhưng hình như giữa bà giáo với nó có một sợi dây giao cảm vô hình!
Tâm trạng ông giáo lúc này có khác gì bà đâu, cũng đang rồi bờ bời, nên chẳng biết động viên như thế nào.
Nhằm khỏa lấp nỗi lo, ông giáo nói một tràng không kịp nghĩ:
-Chắc cũng như lần đẻ trước thôi! Giống chó này là thế! Quá trình chuyển dạ cần vận động cho mềm cơ xương vùng bụng và hông. Không kêu la bấu víu được ai nên nó phải chạy - Biết là mình đang nói theo sự suy diễn, không có một cơ sở nào cả. Nhưng phải nói để trấn an hơn là ngồi làm thinh. Trấn an bà giáo và cũng trấn an chính mình. - Đến lúc “mót” quá, chuẩn bị rơi con ra là nó về ổ đẻ! Bà hãy bình tâm lại đi! Nay mai con Vằn sẽ về.

**
Đến nửa buổi sáng ngày thứ năm, vẫn thói quen như mọi ngày, bà giáo bưng tô cơm ra chỗ nhà xe, định thay tô cơm cũ. Chưa kịp đặt tô cơm xuống, thì bỗng nhiên…con Vằn xuất hiện ngay trước mặt.
Nó múa đuôi, chạy vòng quanh mừng rối rít. Nhìn cái bụng xẹp lép, thấy bầu vú căn hồng thế kia, bà giáo biết con Vằn đã đẻ xong. Mọi việc khi “lâm bồn” đều suông sẻ và hiện con Vằn đang rất đói.
Đến bây giờ có thể nói là bà giáo quá rành về chó mẹ và chó sơ sinh. Sau khi sinh trong vòng hai ngày đầu chó con ngủ liên tục, chỉ thức dậy khi bú rồi lại ngủ tiếp. Trong khi ngủ, chúng vẫn có các động tác co duỗi, đạp chân, lắc đầu hoặc mút không khí tựa như đang bú, ngủ mê. Đó là bản năng luyện tập hoạt động ban đầu của hệ cơ bắp toàn thân. Chó mẹ âu yếm, liếm láp không những hỗ trợ vận động trở mình, mà còn kích thích bài tiết và dọn vệ sinh cho con.
Những ngày vừa qua, bản năng làm mẹ đã níu kéo con Vằn vì những ngày đầu đời của các con. Chắc chắn lần này con Vằn không phải đẻ một con mà cả đàn, sẽ là một khối công việc lê mê xoay vần cực nhọc.
Con Vằn như một người mẹ đơn thân trong cơn vượt cạn, trong tâm trạng luôn luôn lo sợ! Chó con mới đẻ thức dậy không có mẹ sẽ kêu. Con Vằn cần ở bên cạnh luyện cho đàn con không được kêu. Kêu lên là đồng nghĩa với việc “ông ơi con ở bụi này”, là chỉ điểm cho kẻ thù!
Bà giáo ngồi xuống đặt tô cơm, vẫy tay gọi và nói từng câu một cách chậm rãi, kèm theo cử chỉ, như để cho con Vằn nghe và hiểu :
-Cơm để phần cho con đó! Đói lắm phải không? Đừng sợ chi hết! Cứ đến ăn đi! Ăn mạnh vào để đủ sữa cho con bú nhé!
Con Vằn ngoan ngoãn bước đến từ tốn ăn ngon lành và đứng yên đón nhận những cử chỉ vuốt ve âu yếm của bà giáo.
Chờ con Vằn ăn xong, bà giáo đứng dậy đi vào, đến ngõ bà quay lại đưa tay ngoắc, “vào đây đi!”. Con Vằn lẵng lặng quay lui, về chỗ đống gỗ cốp pha ngồi chống chân liếm mép nhìn vào. Đoán chắc còn đói muốn ăn thêm, nhưng bà giáo sợ nó nhịn đói mấy ngày, nay mới được ăn, cho ăn nhiều dễ bị bội thực.
**
Bà giáo rất vui!
Con Vằn đã trở về. Đúng như lời trấn an “Nay mai con Vằn sẽ về” của ông giáo. Nhưng ông không có nhà để chia sẻ với bà.
Bà giáo nói lâm râm như khấn vái điều gì:
“Mình đã trải qua hai lần sinh nở và một lần buộc phải bỏ con. Những cơn đau nối tiếp dội lên tưởng như đứt từng khúc ruột. Người đàn bà cắn môi đến bật máu, bấu víu vào người thân lúc vượt cạn lâm bồn. Một con chó không chủ, không nhà, lủi thủi đơn côi đẻ con nơi gò bãi, dồn nén cơn đau vặn mình vào sỏi đá, bấu víu với bầu trời, nương tựa với cỏ cây. Vậy mà nó chịu đựng được, bốn năm ngày nhịn đói rát ruột không một ai thương! Tạo hóa ban cho mỗi giống loài chức năng sinh nở và nuôi con. Vậy mà con Vằn khi đẻ con phải chạy trốn con người. Khổ thân nó! Trốn chạy cả sự lo lắng và cưu mang!”
Bà giáo đứng nhìn con Vằn với ánh mắt trìu mến. Những âu lo rồi cũng đã qua nhưng sợi buồn còn vương lại. Đàn con trứng nước của nó bây giờ đang ở đâu? Buồn tủi, xót thương quyện vào nhau thành cơn sóng nhẹ cứ dâng lên, lan ra.
Ngoài kia, con Vằn ngồi yên như chiếc bóng. Ông giáo đi chưa về. Buồn và cảm thấy tủi thân, bà giáo rơm rơm nước mắt!


Chương XI. CHUYỆN CỦA CÔ GÁI LẠ

Một buổi sáng, ông giáo thấy có cô gái lạ cứ chạy xe chầm chậm qua lại trước cổng nhà mình. Một vài lần dừng xe đứng nhìn chăm chăm con Vằn, rồi đảo mắt liếc vào nhà. Vẻ mặt lấm lét sợ sệt.
Con Vằn đang đứng ăn cơm chỗ nhà xe. Nó không quan tâm đến cô gái đang nhìn mình. Con Vằn vừa ăn vừa ngoắc đuôi. Chắc có điều gì nó đang vui?
Ông giáo nghi ngờ và tiếp tục theo dõi cô gái lạ. Thêm lần nữa cô gái vòng lại. Hình như người này đang có ý đồ gì với con Vằn?
Đợi khi cô gái dừng xe, ông giáo đẩy cổng bước ra, hỏi thẳng:
-Cô ở đâu đến đây? Định bắt con chó này à!
Cô gái quay lại, hơi giật mình khi nhìn thấy ông giáo. Vẻ mặt lấm lét sợ sệt.
Cô gái bối rối xua tay nói nhanh:
-Dạ thưa bác! Không phải thế đâu ạ! Cháu thấy con chó này quen lắm. Nó giống y con My ở bên cạnh nhà cháu. Nhưng con My ấy chết lâu rồi!
Ông giáo giật thót khi nghe “Nó giống y con My ở bên cạnh nhà cháu”, lại thêm “con My ấy chết lâu rồi !”. Hình như có điều gì bí ẩn, gây tò mò?. Ông giáo chống gương nhìn cô gái hoài nghi và bắt đầu dò xét:
-Nhà cháu ở đâu? Con My của ai? Nó chết lâu chưa? Lúc nãy bác hơi hồ đồ. Xin lỗi cháu nhé! Nếu không vội đi đâu, cháu có thể kể cho bác nghe về con My ấy đi! Biết đâu câu trong chuyện tình cờ lại có sự trùng hợp hiếm hoi. – Thấy thái độ cô gái còn lưỡng lự, hoài nghi. Nhất là đôi mắt đen tròn và sâu của cô không dấu được nỗi sợ hãi. Ông giáo cười và trấn an – Nhà bác ở đây. Cháu cứ yên tâm. Bác là ông giáo già về hưu, chỉ sợ người ta bắt mất con Vằn này thôi. Ban đầu trước lạ sau quen. Cháu đứng sợ chi hết. Hãy tin bác! Bác không phải kẻ xấu!
Trước thái độ chân tình của ông giáo, cô gái trở lại bình tĩnh và kể rằng:
“Cháu ở cách đây hai con phố. Cận kề nhà cháu có vợ chồng ông Tiến sĩ tu nghiệp bên Pháp về. Họ công tác ở Viện Khoa học - Công nghệ. Một cặp vợ chồng trí thức rất chuẩn bác ạ! Trông họ na ná như hai anh em. Giống nhất là da trắng hồng, áo quần bảnh bao, tóc tai mướt rượt. Dáng đi lúc nào cũng vội và mỗi người đều đeo một đôi kính cận rất nặng. Mắt kính dày cộp như cái đít chai!
Nhà họ khá lắm! Hai vợ chồng cưới nhau lúc đã đứng tuổi rồi, nhưng lại rơi vào hoàn cảnh hiếm muộn. Nghe đâu ông Tiến sĩ là con trai độc nhất trong gia đình. Họ chạy chữa khắp mọi nơi, Đông - Tây - Ta - Tàu cả chục năm trời ; trăm phương nghìn kế, trần tục tâm linh cầu cúng đủ cả. Tiền của bỏ ra như núi. Nhưng đành bó tay than ngắn thở dài lo tuyệt tự tông đường.
Thật kì lạ bác ạ! Chạy chữa chán chê cũng công cốc. Nãn quá! Họ tuyên bố thả tay tập trung lo cho khoa học. Ấy thế mà …lại được!”
Ông giáo quá sốt ruột. Cô gái kể hơi rề rà, thỉnh thoảng lại liếc ngang nhìn ông giáo và con Vằn. Ông giáo cũng ậm ừ lấy lệ đưa chuyện.
Cô giái kể tiếp:
“-Bà Tiến sĩ hạ sinh được một thằng cu bốn ký lô. Quí hơn cục vàng. Đặt tên là Phước.
Được vàng đấy nhưng cũng không may bác ạ! Sau lần sinh ấy, bà Tiến sĩ trải qua một ca phẫu thuật rất khó khăn. Phải lách qua một cửa tử rất hẹp. Và bà vĩnh viễn không còn sinh nở được nữa.
Ngày làm thôi nôi thằng cu Phước, vợ chồng Tiến sĩ về quê ngả lợn thết đãi họ hàng, mở tiệc linh đình ăn mừng, vui như hát bội; mời cả khu phố đến chè chén, nghe nhạc sống, hát ka-rao-ô-kê.
Nhân dịp này, bà nội cu Phước từ trên núi Trà My bồng ra cho cháu đích tôn một con cún có tên là My - cùng tuổi với thằng cu Phước. Đây là giống chó quí ở vùng Sơn cước. Giống chó rừng thuần chủng, dễ nuôi, dễ dạy, mau khôn, biết vâng lời và tuyệt đối trung thành với chủ. Đặc biệt nó có bản năng học cách canh phòng cẩn mật, phân biệt người ngay kẻ gian và giữ trẻ rất an toàn.
Từ ngày có con My, nhà ông Tiến sĩ yên tâm hơn, có thể mở cổng cả ngày. Cổng mở là con My biết nhiệm vụ của nó. Con My không nằm le lưỡi chình ình giữa cửa chắn lối và gầm gừ khi có người lạ xuất hiện như các con chó khác. Mà nó tìm chỗ ẩn mình đâu đó. Không tiếng động nhẹ. Không tiếng gầm gừ. Không bao giờ nghe nó sủa. Khi có người lạ (đoán chắc là kẻ gian) xuất hiện muốn vào nhà con My bất ngờ hiện ra đứng đối đầu, cách một khoảng vừa tầm nhảy và nhún chân chuẩn bị lấy đà lao tới.
Con My thực sự là người bạn tuổi ấu thơ của cu Phước. Cu Phước ngủ trên võng, con My ngồi chống chân bên cạnh canh chừng. Có khi người lớn chăm cu Phước buồn tình ngủ theo, con My đến cào vào chân đánh thức dậy.
Khi cu Phước bò, con My cũng bò theo kề bên. Một bước cu Phước bò tới, thì cũng một bước con My thụt lùi. Cu Phước hiếu động bò ra bậc thềm sắp lăn xuống hè à! Khỏi phải lo. Con My đã nhanh hơn nhảy ra chận lối “hừm” một tiếng. Ngay lập tức cu Phước thụt lui. Cả nhà hay nói đùa một cách âu yếm rằng, “Đôi bạn ấu thơ Phước-My!”
Nhà liền kề, hôm nào rãnh rỗi cháu thường sang chơi. Chơi với chúng nó vui lắm bác ạ! Mỗi con cún giống như một đửa trẻ con, mỗi đứa trẻ con như một con cún. Từ ngày con My mất nhà cu Phước buồn xo. Nhà luôn đóng cổng. Bà nội về quê. Ông bà Tiến sĩ phải thuê người giúp việc. Cháu cũng ít khi sang bên ấy chơi.”
Ông giáo tỏ ra sốt ruột, muốn đẩy nhanh câu chuyện, hỏi tắt ngang:
-Thế tại sao con My chết hả cháu? Chuyện cháu kể hấp dẫn quá!
Cô gái kể tiếp:
“-Tội nghiệp lắm bác ơi! Mới đó mà cu Phước đã biết chạy chơi. Chiều hôm ấy không hiểu tại sao mà cu Phước được ra đứng ở vỉa hè. Chắc là đợi ba mẹ đi làm về. Con My vẫn ở bên cạnh. Phía bên kia đường có nhóm trẻ đang nô đùa với những chiếc bong bóng bay ngũ sắc.
Một bé gái cầm cái bóng bay màu đỏ tách nhóm ra vẫy gọi:
-Ê em Phước! Sang sang đây chị cho nè!
Thấy mấy cái bong bóng bay hấp dẫn vẫy gọi, Cu Phước bước xuống đường chạy qua. Ngay lập tức con My lao theo cắn vào ống quần kéo lại. Cu Phước mất đà té vập mặt xuống đường khóc thét lên. Cũng là lúc xe ông bà Tiến sĩ vừa về đến cổng.
Mũi miệng cu Phước tươm máu tươi.
Bà Tiến sĩ hét lên:
-Con chó vồ chết cu Phước rồi! Bà con ơi! Hãy cứu con tôi với!
Bà Tiến sĩ vừa la hét thất thanh vừa hoảng hốt nhào tới ôm con đi cấp cứu.
Mặt ông Tiến sĩ hằm hằm. Con My bị bóp cổ lôi vào nhà. Một cơn mưa đòn giáng xuống con My. Vớ được thứ gì ông Tiến sĩ quật thứ nấy. Con My cứ nằm sấp câm lặng chịu trận.
Thương con My bị đòn oan, nhiều người lên tiếng bênh vực nó. Chính cháu cũng a vào can ngăn ông Tiến sĩ, van nài khẩn khoản:
-Chú ơi! Đừng đánh nữa ! Không phải con My vồ cu Phước đâu! Nó kéo cu Phước lại không cho chạy sang đường đấy mà! Chú ơi đừng đánh nó nữa!
Nhưng lúc giận mất khôn! Ông Tiến sĩ không còn nghe thấy được gì nữa! Sự can ngăn của mọi người, cùng với sức ì “lì đòn” của con My càng kích thích cơn tức giận và sự hung hăng đang bùng lên trong người ông.
Ông Tiến sĩ túm chân con My xách ngược lên, vớ được cái bươm xe đạp. Và một cú quật trời giáng vào đầu con My; kèm theo những tiếng nghiến rít qua kẻ răng “Cho mày lì này!”
Con My lè lưỡi.
Mắt mở thô lố.
Vài nhịp thở thoi thóp rồi tắt hẳn.
Con My đã chết!
Ông Tiến sĩ vội vàng phóng xe xuống bệnh viện thăm con, tiện đường ông kẹp theo xác con My đem đi. Không biết ông đem đi đâu. Cũng có thể ông ấy đem ném vào chỗ mấy cái lò quay cầy nơi đầu phố cũng nên!
May mà Cu Phước chỉ bị rách sơ cánh mũi, xây sướt nhẹ và dập môi. Bác sĩ cho xuất viện về nhà ngay tối hôm ấy. “Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột!”. Không nên trách cứ gì ông bà Tiến sĩ. Trong mắt họ lúc ấy, con My chỉ là con chó, đã đe dọa đến sinh mệnh cu Phước - Một báu vật “độc đinh” của dòng họ!
Cháu cảm thấy thương con My bị chết oan, muốn tìm đem chôn nó kẻo tội.
Khi nghe cháu hỏi nơi vất xác con My, ông Tiến sĩ dẫn cháu ra bãi rác chỉ chỗ. Cháu đến tìm nhưng không có. Chắc xác con My bị con gì tha mất rồi!
Trên đường trở về nhà, ông Tiến sĩ lặng im như hạt thóc. Sắc mặt hơi buồn. Chắc đến khi hồi tâm lại, ông đã ân hận về cách hành xử quá tay của mình với con My. Nhưng mọi việc đã muộn quá rồi!”
**
Vừa chăm chú lắng nghe cô gái nói, vừa lắp ghép liên hệ những tình tiết, kết dính hai con chó lại với nhau, ông giáo tin chắc rằng, con Vằn này chính là con My của ông Tiến sĩ nọ.
Ông giáo bất chợt liên tưởng đến hiện tượng “chết lâm sàng” ở con My: Bị ném vào bãi rác, con My được trả lại cho đất trời. Thấm hơi đất, ngấm hơi sương, con My tỉnh lại và bò đi. Không biết nó đã đi bao lâu, để cuối cùng lạc vào bãi cỏ hoang, ngã tư Nguyễn Thị Thập - Ngô Đức Kế.
Sau khi chết đi sống lại, con My Không còn nhớ gì cả. Trong đầu nó chỉ còn lưu lại lờ mờ hình ảnh một người đeo kính trắng và cú đòn trời giáng tóa đom đóm vào đầu!
**
Con Vằn ăn xong, đang nằm nghỉ. Muốn sự khẳng định của mình chính xác hơn nữa, ông giáo hỏi cô gái:
-Chuyện này lâu chưa hả cháu?
-Dạ …khoảng chừng… một năm nay rồi!
Ông giáo chỉ con Vằn còn đang nằm chỗ nhà xe nói với cô gái:
-Nó chính là con My đấy cháu ạ!
Cô gái nửa tin nửa ngờ hỏi lại:
-Có thật như thế không bác?
-Sự thật một trăm phần trăm! Con thử gọi tên và lại với nó xem sao!
Cô gái làm theo lời ông giáo, đưa tay vẫy gọi:
-My! My ơi lại đây!
Con Vằn đứng dậy nhìn cô gái và vẫy đuôi. Nhưng khi cô gái tiến đến, nó liền quay lưng bỏ đi.
Ông giáo muốn thay lời cảm ơn và chào cô gái bằng một câu nói chia sẻ:
-Con My không chết là nhờ có phúc đức đấy cháu ạ! Nó còn nhớ và nhận ra cháu vậy là con chó có nghĩa. Hãy vui cùng bác đi cháu!
Ông giáo định chủ động chia tay, nhưng cô gái còn chần chừ nấn ná lại, hình như muốn kể thêm một chuyện gì nữa.
Ông giáo hỏi:
-Còn chuyện chi không cháu?
Giọng cô gái se lại:
-Vui nhưng cũng buồn bác ạ!
Im lặng một lúc lâu, cô gái mới thổ lộ tiếp:
-Mấy tháng sau, ông Tiến sĩ bị tai biến mạch máu não ngay giữa Cuộc Hội thảo khoa học về bảo vệ động vật hoang dã. Nghe nói di chứng để lại khá nặng: Quảng đời còn lại gắn chặt với chiếc xe lăn. Nghe được! Hiểu hết! Nhưng không biết nói! Và cũng không biết viết!
Dứt câu nói, cô gái ngước mắt nhìn ông giáo chăm chăm. Ông giáo nhìn xoáy sâu vào đôi mắt đen tròn ngơ ngác của cô gái. Trong đáy mắt thẳm sâu còn ẩn chứa điều gì muốn nói?
Hình như cô gái còn bâng khuâng muốn hỏi thêm ông giáo, nhưng lại thôi. Chính ông giáo cũng đang bối rối trong lòng!
Cô gái đột ngột chào tạm biệt ông giáo, rồi đề máy xe phóng đi như muốn trốn chạy!
**
Cuộc nói chuyện tình cờ với cô gái đã làm sáng tỏ ra rất nhiều điều bí ẩn bao phủ chung quanh con Vằn bấy lâu nay. Những tiên đoán từ trải nghiệm trên đường đời được minh chứng. Bao nhiều hoài nghi dần dần được sáng tỏ. Những dự báo để điều chỉnh mọi hành vi…và cõi tâm cũng được khơi sáng thêm.
Duy có một vài điều khiến ông giáo bận tâm nghĩ ngợi mông lung, cảm thấy hơi gai gai lo sợ.
Ông giáo tự vấn lòng mình:
Sự oan khiên đi liền với tai họa, giận hờn sản sinh ra tàn bạo, vì cái riêng tư gây tội ác với giống loài…Và đòn trừng phạt phủ phàng là bạn đường của tội ác. Đó là cội nguồn đẩy con chó mỗi ngày một cách xa với con người. Sợi dây oan nghiệt đã trói buộc, treo thắt bao nhiêu thân phận rồi ? Một con vật chí nghĩa chí tình như con Vằn cũng không thoát được!
Làm ơn mắc oán! Đó là một nghịch cảnh xưa rích tồn tại bao đời nay, song song với thân phận con người. Con Người đang làm chủ hành tinh này. Không biết liệu loài người văn minh có vô tình đặt chân lên tình người, chọc gậy khuấy sào đục ngầu ân nghĩa mà đẩy nhau ra xa?
Ông giáo lại nơm nớp lo sợ mình sẽ giống ai đó. Quần áo trao chuốt, dáng vẻ thanh tao, nhìn đời qua đôi tròng kính…Con vật nó không có trí khôn để suy xét và tiên đoán bản tính con người. Không biết những con vật mà ông đã cưu mang, nuôi dưỡng đến một lúc nào đó, nó có trở nên xa lánh, hoặc ngoảnh mặt quay lưng.
Những bí ẩn về con Vằn được sáng tỏ. Lòng ông giáo lại cứ rối bung.

Chương XII. TÌM KIẾM

Con Vằn thường hay đi lại lang thang, mỗi lần nó lẫn trốn tìm đã khó. Bây giờ tìm đàn con mới đẻ, nó cố tình che dấu rất khó khăn.
Có khó khăn bao nhiêu cũng phải tìm. Ông bà giáo không thể bỏ rơi con Vằn và đàn con của nó! Hình như đang có một dây oan nợ vô hình cứ vương vấn làm rối lòng ông bà giáo. Dù sự cảm nhận ấy còn khá mơ hồ!
Chính cuộc sống ẩn dật, lẫn tránh bấy lâu nay, nên các giác quan ở con Vằn rất nhạy. Bản năng phòng vệ và đối phó rất cao và tâm sinh lí diễn biến thất thường. Nếu cảm thấy bất an bị truy tìm và sự đe dọa đến từ phía con người, nó sẽ tha con di chuyển ổ đi chỗ khác.
Ông bà giáo bàn nhau: Truy bắt một con chó dại, người ta dùng hung khí, bằng đôi tay, truy sát đến cùng đường. Nhưng với con Vằn cùng đàn con của nó thì không thể…
Phải ứng xử với con Vằn như một con người, bằng cách thuyết phục và cảm hóa. Bà giáo là nơi con Vằn tin cậy. Chỉ có bà giáo mới làm được điều đó. Bà giáo hãy coi con Vằn như một cô cậu học trò cá biệt năm xưa!
**
Mỗi lần bưng cơm cho con Vằn, bà giáo luôn tỏ thái độ thân thiết. Những cử chỉ âu yếm nhỏ nhẹ, đi kèm những câu thăm dò: “Đẻ con để ở đâu?”, “Hãy chỉ chỗ để bà đem chúng nó về!”, “Con nhỏ để ngoài trời mưa lạnh sẽ chết”, vân vân …và vân vân.
Bà giáo kiên trì, cứ lặp đi lặp lại nhiều lần như thế. Hy vọng những phản xạ có điều kiện, cùng với bản năng bẩm sinh của loài chó khôn ngoan, sẽ giúp con Vằn giải mã và hiểu được nỗi lòng bà.
Một hôm, con Vằn vừa ăn xong đang nằm nghỉ. Bà giáo vuốt lưng nó nói, “Dẫn bà đến thăm các con nhé!”. Nó đứng dậy đi. Bà giáo túc tắc theo sau. Đang dẫn đi thẳng, con Vằn lại rẽ ngang trái, rồi dẫn quay lui. Đứng lơ ngơ một lúc, con Vằn rẽ phải, lòng vòng trong bãi cỏ, nó lại dẫn trở ra…
Bà giáo vốn bị bệnh đau khớp, nên không theo kịp và cũng không thể biết cái “ma trận” của con Vằn dẫn đi đến đâu. Hình như nó cố tình đánh lừa người đang đi tìm cái ổ của nó! Bà giáo đứng lại lắc đầu rồi quay lui.
Bà giáo về nhà nói lại chuyện “bám gót” con Vằn đi tìm ổ chó con với ông giáo, rồi đưa ra một nhận xét lờ mờ:
-Tôi nghi ngờ con Vằn này không đơn thuần chỉ là một con chó ông ạ! Có thể một ai đó ở cõi bên kia trở về nhập vào nó?
Không cần biết thái độ ông giáo như thế nào, bà lên gian thờ thắng nhang khấn vái lâm râm.
**
Ông giáo vốn không phải người duy tâm, nhưng tôn trọng sự tín ngưỡng, không muốn đụng chạm đến cõi tâm linh của mọi người. Ông giáo đã để tâm đến con Vằn và có cách nhìn nhận riêng:
Giờ đây hầu như con Vằn không đi đâu xa, đến bữa về nhà xe ông giáo, lúc phải nghỉ ngơi thường nằm “ngáp ruồi” chỗ mấy đống gỗ cốp pha. Nằm hoài có lúc tê chân cần phải đi, nó chỉ loanh quanh khu bãi cỏ.
Ông giáo suy luận: Con Vằn cần phải ở gần để bảo bọc đàn con. Nó rất “quái”, dẫn bà giáo đi lại lung tung vòng vo như thế là việc làm gây rối, đánh lạc hướng để bảo vệ con. Ổ của con Vằn chỉ ở quanh đây.
Dù có tinh khôn thế nào đi nữa, thì con Vằn cũng chỉ là con sói được con người thuần hóa. Ông giáo sẽ theo nó đến tận cùng. Chỉ còn cách “trói” con Vằn bằng mắt và “truy” bắt đến tận hang ổ.
Con Vằn ăn xong quay lui, đi vào đống gỗ cốp pha cạnh nhà xe, không thấy đi ra. Mục tiêu đã được xác định. Ông giáo bám theo dấu chân.
Trời khô ráo nên dấu chân đi trên cát in khá rõ, dẫn đi xuống lối đường hào xuyên ngang. Ông giáo tin chắc con Vằn đang ở đây! Nó đã chọn nơi đào hào ẩn nấp rồi, thì nhất định sẽ là nơi lót ổ. Nhưng ông giáo tìm hoài không thấy. Dấu chân con Vằn lại dẫn ra phía bên kia, gối vào bãi cỏ. Mất dấu!
Thật ma mãnh! Con Vằn đã đánh lừa được ông giáo: Nó vào đống gỗ, đi xuống đường hào. Khi ông giáo chăm chú tìm dưới đống gỗ cũng là lúc con Vằn chui tọt luôn sang phía bên kia, chạy vòng về đống ghỗ cốp pha bên cạnh. Con Vằn đứng nhìn sang vẫy đuôi, như muốn trêu ngươi! Một cuộc trốn tìm ngoạn mục!
Ông giáo tự cười vào mũi mình: “Thua mưu một con chó!”, rồi đi vào nhà. Nhưng đôi mắt ông đã “phong tỏa” đống gỗ ấy. Con Vằn đã vào ôm con ngủ yên trong ổ. Ông giáo nhanh chân đột nhập ngay. Con Vằn mất dạng? Truy tìm theo dấu vết thì có rất nhiều dấu chân khác nhau chung quanh đống gỗ: Chó, mèo, cả dấu phân chuột. Lẽ nào ba loài vật này cùng sống chung dưới một mái nhà?
Gầm đống gỗ cốp pha này hơi thấp, nhưng có thể nhìn thông thống từ bên này sang bên kia. Ngoài mấy cục đá kê đà và vài miếng ván nằm trên mặt đất, không còn thấy vật gì khác. Kể cả ban đêm, ông giáo dùng đèn pin cực mạnh cũng chỉ thấy có thế thôi.
Vậy thì mẹ con con Vằn đang ở đâu? Những miếng ván cốp pha người ta xếp chồng lên nhau. Chỉ có dán, kiến hay lũ chuột nhắt mới chui vào làm tổ được. Chỉ còn một việc là xả bung đống gỗ cốp pha này ra mới có được câu trả lời thỏa đáng.
Bao nhiêu lần ông giáo tự hỏi “Vì sao con Vằn lại dấu đàn con kĩ như thế?” Không thể trả lời được, ông tự trêu chính mình: “Con Vằn thuộc mô tuýp loại ‘nhớ dai thù sâu’. Nó không bao giờ quên lần trước mình đã ‘bán đứng’ đàn con của nó cho mấy người bạn!”
Gần cả năm nay chạy theo con Vằn, đến giờ ông giáo vẫn chưa định hình được về con vật này, cứ mơ hồ thực thực hư hư:
Không ai có thế biết được chính xác nó đang ở đâu.
Thoắt ẩn biệt tăm.
Thoắt hiện bất ngờ.
Đi lại lặng im khẽ nhẹ như cái bóng.
Chạy trốn nhanh như có phép tàng hình.
Bà giáo cũng khẳng định là ổ của con Vằn chỉ nằm gần đâu đây. Bởi mỗi lần bà bưng cơm ra nhìn quanh không thấy. Nhưng chỉ một lúc sau con Vằn tới liền. Con Vằn ăn rất nhiều nhưng vẫn gầy, mỗi ngày một gầy hơn. Hiện tại nhìn nó cứ như một bộ xương khô biết chạy.
Theo như nhận định của bà giáo, thì lứa này con Vằn cũng đẻ nhiều con. Chó sơ sinh sau khi mở mắt, biết ăn mà không được cho ăn dặm thêm, chúng nó đói bú đến cạn kiệt sữa mẹ. Vì vậy nên con Vằn ngày một xác xơ như thế.
Bà giáo bấm tay nhẩm tính rồi nói với ông giáo:
-Mới đó đến nay, mà con của nó đã hai tháng tuổi rồi đấy ông ạ! Thời gian này rất dễ tìm được chúng. - Ngừng một chút, bà giáo giảng giải tiếp. - Thông thường ở giai đoạn này, chó mẹ bắt đầu “giáo dục” cho những đứa con mình bằng những tiếng gầm gừ, thường là khi chúng đòi ăn. Không cho ăn chúng tự bò ra ngoài tìm thức ăn và đi vệ sinh. - Bà giáo ngưng nói cười. - Bầu vú con Vằn bây giờ tóp teo, chảy dài thòng thườn thượt, khi chạy phất phơ như chiếc lá như thế, thì cạn sữa rồi.
Ông giáo ngồi lặng im nghe bà giáo nói và dự định sáng mai nhờ mấy người bạn dở đống gỗ cốp pha.


Chương XIII. CUỘC GIẢI CỨU LÚC NỬA ĐÊM

Đang ngủ say, bỗng nghe tiếng chó sủa dữ dội, ông giáo bật dậy. Liếc nhìn đồng hồ đã mười hai giờ đêm. Lại có cả tiếng động vào cánh cửa sắt. Nghi có kẻ gian đột nhập vào nhà, ông giáo bước ra nhìn qua cửa kính, thấy con Vằn đang hướng mõm sủa vào nhà.
“Con Vằn biết sủa!”. Lần đầu tiên ông giáo nghe được tiếng sủa của con Vằn: Cao vỗng nghe “don dỏn” và gấp gáp.
Ông giáo cầm đèn pin mở cửa đi ra cổng. Con Vằn chạy ngay sang đứng trước đầu xe, gióng mõm sủa qua chỗ đống gỗ cốp pha mà ông định sẽ tháo dỡ vào sáng ngày mai.
Ông giáo đến chỗ con Vằn. Nó chạy vòng sang bên kia đống gỗ đứng sủa tiếp. Từ nghi ngờ ông giáo đi đến khẳng định: “Đích thị là ổ chó ở đó, có người vào bắt con, nên con Vằn vào tận ngõ ‘lên tiếng’ gọi ông đến cứu giúp”. Ông giáo bật đèn pin chiếu thẳng vào đống gỗ cốp pha.
Mấy bóng người đang thập thò rình mò. Ông giáo quát lớn:
-Chó nhà tôi đẻ ở đó. Ai đến bắt?
Một bóng người nhỏ bé tiến đến gần. Ông giáo soi đèn, “A một cô gái nhỏ!”. Ông hắn giọng hỏi tiếp :
- Các người ở đâu đến đây bắt chó nhà tôi? Định bắt trộm à?
-Chúng con đang tìm một con chó đi lạc ạ!
-Đi lạc bao lâu rồi?
-Dạ hơn tháng nay.
-Không phải chó nhà cô. Tôi nuôi nó cả năm nay rồi. Các người đi bắt trộm. Tôi gọi báo chính quyền ngay bây giờ.
Cô gái vội xuất trình giấy chứng nhận và thẻ hành nghề. Ông giáo liếc qua “Trạm Thông tin & Cứu hộ chó mèo Đà Nẵng”.
Ông giáo tiếp tục tra vấn:
-Vì sao biết ở đây có chó mà tìm đến?
Cô gái bật điện thoại di động đưa cho ông giáo xem một tin nhắn: “Em vừa nhìn thấy một đàn chó con cùng chó mẹ đi trên bãi cỏ chỗ ngã tư Nguyễn Thi Thập-Ngô Đức Kế. Các anh đến xem thử có được không ạ?”. Đính kèm theo tấm hình chụp khu vực bãi cỏ góc ngã tư khá rõ.
Ông giáo vừa đi tới đống gỗ vừa lẩm nhẩm “Nghe lạ hi! Ở thành phố này lại có một tổ chức như thế a?”. Cô gái đi theo bên cạnh. Ông giáo quay sang hỏi:
-Trạm Thông tin này trực thuộc đâu? Ai nuôi?
Cô gái lễ phép trả lời:
-Dạ thưa bác! Một tổ chức phi lợi nhuận. Chúng cháu tham gia tự nguyện ạ!
Ban đầu tạm tin như vậy. Ông giáo đi đến nơi, thấy hai anh thanh niên đang soi đèn lay hoay tìm cách chui vào đống gỗ.
Ông giáo lên tiếng hù dọa:
-Chó nhà bác đấy! Nó rất vâng lời chủ. Chó đẻ thành chó dữ. Bác ra lênh là nó tấn công ngay. Báo động trước như thế. Nó cắn bác không chịu trách nhiệm đâu!
Một cậu trong nhóm nhanh nhảu hỏi ông giáo:
-Chó nhà bác sao không đẻ trong nhà mà lại ra đây?
Ông giáo cười và buông lời hài hước:
-Cậu này hỏi nghe hay nhỉ! Cậu không thích ngủ trong nhà thì ra ngủ ngoài hiên. Con chó nhà tôi lần trước đẻ trong nhà, lần này không thích đẻ trong nhà thì ra ngoài bãi cỏ. Đó là quyền tự do của nó. Có gì lạ đâu mà thắc mắc hè!
Con Vằn vẫn cứ chạy sủa vòng quanh.
Với sự cảm nhận ban đầu, ông giáo tin rằng mấy anh chị này là những người ngay. Chỉ đi làm việc quang minh họ mới tự tin và nói năng thẳng thắn như vậy. Ông giáo đang cần sự giúp đỡ tìm ổ chó con. Đúng là “Buồn ngủ gặp chiếu manh”!
Ông giáo kể với các bạn trẻ về sự xuất hiện của con Vằn, quá trình chăm sóc, đặc điểm của nó; chuyện con Vằn đẻ lần trước ra sao…và lưu ý đến tình trạng ổ chó hiện tại.
Ông giáo cũng thổ lộ tâm trạng ông bà hiện nay: Đang rất lúng túng, chưa xác định được chính xác vị trí ổ chó, không biết trong ổ có bao nhiêu con? Lo ngoài trời sắp đến mưa gió…không biết chúng sẽ ra sao?
Ông giáo giữ kín câu chuyện với cô gái đi đường hôm nọ, vì có những chi tiết không nên kể ra.
Ngưng kể chuyện như để cân nhắc điều gì, ông giáo nói:
-Bác đang nghĩ cách, cần phải đưa ổ chó con vào nhà, để chăm sóc và bảo vệ chúng.
Một bạn trong nhóm lên tiếng:
-Chúng cháu tình nguyện hỗ trợ thực hiện nguyện vọng của bác.
Ông giáo đồng ý. Và công việc di chuyển ổ chó bắt đầu.
**
Trước tiên là việc tìm bắt chó con:
Cô gái trẻ lo lắp đặt cái chuồng di động để nhốt các bé. Các bạn trẻ này không gọi “chó con”, mà gọi một cách trìu mến là “bé”. Hai anh bạn xoay trần, một tay cầm đèn pin soi, tay kia dùng bay khỏa cát mở lối chui vào gầm đống gỗ. Trông họ giống hai con dế nhủi chuyên cần. Ông giáo soi đèn đi quanh canh chừng các bé thoát ra ngoài.
Con Vằn chạy lại đứng chỗ hai chiếc xe máy của các bạn trẻ dựng ngoài đường, nhìn vào. Ông giáo vừa đi đến chỗ nó vừa nghĩ: “Nó biết họ sẽ đến lấy xe, định đón lõng đây! ‘Chó chạy cùng đường’, khi mấy đứa trở ra nó sẽ tấn công”.
Ông giáo đi về phía con Vằn. Con Vằn đứng yên chứ không bỏ chạy như mọi khi. Ông giáo cảm thấy yên tâm và thầm thán phục sự tinh khôn, có khi ma mãnh của con Vằn. Ít ra đến lúc này, nó biết quên nỗi sợ hãi với con người để “hợp tác với đồng minh” cứu con.
Ông giáo nói chuyện với con Vằn, như với một người bạn, trấn an nó:
-Không có chuyện gì nguy hiểm cả. Họ đang giúp ông di chuyển các con vào nhà. Để ở ngoài đó đói và lạnh tội nghiệp chúng nó. Chúng nó lớn rồi, cần phải ăn. Một mình mày không nuôi được chúng nó!
Ông giáo nhắc lại rành rọt từng câu. Con Vằn gióng tai đứng yên và không sủa nữa. Vậy là nó đã hiểu ra!
Ít ra là đến lúc này, ông giáo tin rằng con Vằn nghe và hiểu được tiếng người. Ông giáo nhớ lại chuyện cách đây mấy hôm:
Bà giáo có việc phải đi vắng cả tuần lễ. Bà dặn ông giáo ở nhà nhớ cho con Vằn ăn, để nó đủ sữa cho con bú. Phần cá kho cho con Vằn bà đã chuẩn bị sẵn. Đến bữa ông chỉ cầm hâm sơ lại rồi trộn với cơm.
Ông giáo nhắc lại bà:
-Phải ra dặn trước nó đi! Chứ không thì ở nhà thấy tôi đem cơm ra là nó bỏ chạy! Tôi cho đói luôn!
Chiều hôm trước khi đi, bà giáo đem cơm cho con Vằn và ngồi nói chuyện với nó, dặn dò tỉ mỉ, dặn đi dặn lại nhiều lần:
-Mai bà đi vắng cả tuần. Con ở nhà với ông. Không được đi đâu xa. Ông thay bà đem cơm cho con ăn nghe chưa! Ông đem cơm ra mà mày làm lơ là ông bỏ đói. Nghe chưa? Hiểu chưa?
Sáng hôm sau xe đón bà giáo đi sớm. Con Vằn đến “tiễn” và chạy theo một đoạn khá xa. Xe chạy khuất, con Vằn quay lui. Từ hôm ấy, ông giáo đem cơm ra, con Vằn đến ăn ngay chứ không bỏ lơ nữa.
Ông giáo quay lại chỗ các bạn trẻ đang tiến hành công việc bắt chó con. Ông ngồi xuống dọi đèn vào gầm đống gỗ, mỉm cười. Hai chú “dế nhủi” đang làm việc cần mẫn.
Ngồi sốt ruột, ông giáo cứ hỏi chừng chừng: “Tới chưa?”, “Thấy không?”, “Mấy con?”
Một giọng nói vui mừng trong đống gỗ vọng ra:
-Hai bé bác ạ! Một đen một vàng.
Các bé lần lượt được chuyền ra cho vào chuồng.
-Đây rồi ! Một bé nữa màu vàng…Lại một bé nữa đang chạy ra đó!
Ông giáo lia đèn pin quét ngang, Một chó con màu đen chạy ra lũi vào bụi cỏ. Không thoát được đâu. Cô gái đã nhanh chân hơn.
Ông giáo lo lắng, luôn nhắc nhở:
-Tìm kỹ nghe các cháu ! Lần trước nó đẻ đến bốn con đấy nhé! Lần này chắc là nhiều hơn.
Hai chú “dế nhủi” bò lùi trở ra. Cát dính từ đầu tới chân, thở phào nói cười hỉ hả.
-Chúng cháu tìm rất kĩ rồi! Chỉ có bốn bé thôi bác ạ! Chính giữa có một cái hầm rộng, sâu lút cánh tay. Các bé trốn chạy dưới ấy. Gan lì quá ! Túm chân kéo lên mà cứ im thin thít.
Ông giáo tỏ ra thán phục con Vằn:
-Hóa ra là như thế! Thuộc loại “siêu chó” và “quái chó” rồi! Nó biết “cách đánh du kích”, dùng thuật nghi binh đánh lừa mục tiêu; giương đông kích tây, đào hào bên kia lót ổ bên này. Mẹ con nhà nó lại chui xuống đất “nằm hầm bí mật” như thế thì bố ai tìm được!
Bốn chú chó con được bỏ chung vào chuồng, quá sợ hãi chẳng dám nhìn ra ngoài. Chúng chụm lại bấu víu, dúi đầu vào nhau nằm sát góc chuồng.
Ông giáo soi đèn sờ nắn, lật từng con một, miệng cứ xuýt xa:
-Chu choa! Dễ thương quá trời! Múp rụp, ú na ú nần! Cũng bốn con toàn chó đực, hai vàng hai đen. Thật tuyệt vời… các con ơi! Giống y chang lần trước!
Hình dáng con Vằn xác xơ như tàu lá chuối sau trận bão, với bốn chú cún con mập ú như những trái sim chín đầu mùa, đã nói lên tất cả: Để nuôi được đàn con như thế, mẹ Vằn đã vắt cạn kiệt sức lực của mình!
**
Việc tiếp theo là lừa bắt chó mẹ:
Con Vằn vẫn im lặng đứng “phục” sẵn chỗ ngã tư, nhìn vào theo dõi mọi diễn biến nơi đống gỗ.
Ông giáo hết nhìn ra con Vằn lại nhìn vào ổ chó con. Trong lòng đầy băn khoăn và âu lo:
-Bây giờ mình đem chó con vào nhà, để chó mẹ ở ngoài thì tội nghiệp nó quá các cháu ạ!
-Đưa luôn chó mẹ vào nhà.
-Không bao giờ nó chịu vào nhà đâu
-Bác yên tâm! Bọn cháu có cách. Nghề nghiệp chúng cháu mà. Bắt chó con trước, dùng chó con nhữ bắt chó mẹ sau.
Ông giáo thầm khen các bạn trẻ đa mưu. Kế này dù rất cũ nhưng thâm hiểm. Đó là sự biến thể trong ba mươi sáu kế dụng binh của Tôn Tử - “Điệu hổ li sơn”. Nghĩa là nhữ cọp ra khỏi núi. Ở đây các bạn trẻ nhữ con Vằn vào nhà để bắt. Người mẹ nào cũng lụy vì con!
Sau một lúc trao đổi, chuồng chó con được đưa vào trong sân. Con Vằn theo ngay vào tận cổng. Trong sân nhiều người, nên nó cứ lờn vờn bên ngoài.
Cái bẫy đơn giản được giăng ra: Chỉ một sợi dây dài buộc một đầu vào cánh cổng, đầu kia nối vào nhà. Mở cổng và mọi người “trốn” hết. Chuồng chó con để ngoài sân nhữ con Vằn. Thấy không có bóng người, con Vằn vào trong sân và xáp lại chạy vòng quanh chuồng, cào cấu, cắn xé định phá chuồng giải thoát đàn con. Cánh cổng từ từ khép lại. Con Vằn đã bị nhốt trong vườn.
Hai anh bạn trẻ dùng dây thắt thòng lọng quăng bắt con Vằn. Nhưng ở vườn rộng không thể tròng được nó. Dây thòng lọng quăng tới con Vằn tránh né được tất. Mấy lần nó còn đớp được dây kéo ngược trở lại.
Cần phải có một khoảng hẹp hơn mới tròng được cổ con Vằn: Hai anh bạn trẻ mở cửa lừa con Vằn vào trong nhà.
Trong nhà chật hẹp vướng nhiều đồ đạc. Con Vằn vốn đã nhanh nhẹn, giờ bị vây bắt càng nhanh nhẹn hơn: Luồn lách như con mèo, né tránh nhanh như một con báo. Mấy lần tròng được dây vào cổ, nhưng không giữ được nó. Khả năng cắn xé của con Vằn như chặt chém. Dây nhựa, dây thừng bện chặt và to như ngón tay. Nó chỉ cần nhằn nhằn vài cái là đứt rời từng đoạn như cắn dây chuối. Cuối cùng phải dùng đến dây điện năm li, lõi đồng nhưng cũng đành chịu thua.
Hàm răng con Vằn sắc bén như gươm, được cấu tạo như một cái kiềm cộng lực. Nó có thể cắn đứt và nghiền nát mọi thứ.
Ông bà giáo ngồi co chân trên ghế theo dõi “cuộc vây bắt” có thể nói là ngoạn mục.
Trong tâm trạng vừa sợ vừa thương con Vằn. Bà giáo ghé tai ông giáo nói nhỏ:
-Hay là nói mấy đứa thả nó ra đi ông ạ! Thấy tội nghiệp nó quá ! Cũng vì con nó mới vào nhà mình, lại bị vây bắt. Không chừng “chó bị đuổi cùng đường” con Vằn sẽ tấn công mọi người thì chết.
Ông giáo lắt đầu hiến kế:
-Đến dây điện cỡ đó mà nó cũng nghiến đứt! Không còn loại dây nào chắc hơn nữa rồi. Các cháu cứ lùa cho nó chạy như thế đi, đến lúc nó mệt đứ dừ ta bắt rất dễ.
-Chờ cho đến lúc “nó mệt đứ đừ” thì bọn cháu cũng bật ngửa.
Đã nhiều lần vây bắt, giải thoát chó mèo, nhưng các bạn trẻ chưa gặp một con chó nào ghê gớm như con Vằn này. Hiện họ đang lúng túng.
Mấy anh bạn trẻ có vẻ ngao ngán nhìn nhau. Con Vằn ngồi tựa lưng trong góc nhà trông ra. Hàm răng nghiến chặt. Đôi mắt lạnh lùng. Đầu hơi rướn về phía trước. Hai chân sau cứ nhấp nhõm trong tư thế sẵn sàng phóng tới.
Hai anh bạn trẻ bấm tay “dắt” ông giáo ra ngoài. Đến lúc này các bạn mới ngờ ngợ rằng, con Vằn có khả năng đặc biệt, có thể “nghe” và “hiểu” được chuyện đang bàn về nó. Nên họ phải ra ngoài bàn tính.
Ông giáo cứ tủm tỉm cười. Một ông giáo bảy mươi tuổi đầu mà cùng mấy anh thanh niên rủ nhau chơi trò bắt chó. Lại còn lên kế hoạch cụ thể, có kịch bản và phân vai như đóng phim hành động.
Lại một cái bẫy nữa được giăng ra: Ông giáo tìm cách nhốt chó con sang chỗ khác, nếu được thì chọc cho các bé kêu lên cầu cứu càng tốt. Một anh bạn trẻ lấy cái chuồng làm đó, ngồi đơm đón lõng ngoài cửa. Nhiệm vụ anh này quan trọng nhất - Phải đóng kịp thời cửa chuồng khi con Vằn lọt vào, nhốt lại. Anh bạn còn lại trở vào trong nhà, tiếp tục dùng dây thòng lọng quây bắt con Vằn. Cô gái làm “nội gián” bên trong, mở hé cánh cửa vừa đủ để con Vằn lọt qua. Nhất định con Vằn sẽ thoát qua khe cửa và lọt vào chuồng.
Vở diễn rất hoàn hảo.
Con Vằn đã bị bắt nhốt.
Bị sa vào chuồng, con Vằn lồng lộn điên cuồng như con hổ dữ sa bẫy. Dùng đầu, mõm, răng, móng vuốt… muốn phá bung tất cả.
Bà giáo thực sự hoảng hốt.
Anh bạn ở trong nhà vất dây thòng lọng, trấn an ngay:
-Hai bác cứ bình tĩnh! Không sao đâu ạ! Để con xử lí. - Miệng nói tay làm, anh đến chỗ ông giáo bồng một cún con đem đến, sè sẹ chùi vào chuồng - Bé con của em đây này!
Ngay lập tức con Vằn nằm xuống ôm con vào lòng. Cún con rúc đầu vào bú mẹ. Lần lượt các bé được thả vào chuồng với chó mẹ. Con Vằn nằm khoanh chân ôm các con cho bú, mắt nhìn quanh như không có những chuyện vây bắt kinh hoàng vừa mới xảy ra.
**
Công việc còn lại tiếp theo về chó mẹ với đàn con do ông bà giáo quyết định. Đã hai giờ sáng rồi! Tất cả đều thấm mệt, không còn thời gian để trao đổi nhiều.
Thực tình ông giáo đã suy tính đắn đo khi tìm thấy ổ chó con và bắt được con Vằn.
Dù con Vằn chưa một ngày ở trong nhà ông bà giáo, nhưng nó đã là thành viên của gia đình. Cũng có nhiều chuyện buồn vui, yêu thương, trách cứ…như thân phận người đời. Ông giáo rất muốn giữ mẹ con nó ở lại nuôi.
Nhưng nuôi cả đàn chó bốn cún và con Vằn không đơn giản. Lứa trước ông bà giáo đã trải qua rồi. Cuối cùng còn mỗi Cún Đen cũng không giữ được! Lại thêm con Vằn với bản tính hoang dã như thế bấy lâu nay. Ông bà giáo chưa thể tiên lượng trước được điều gì sẽ xảy ra trong thời gian sắp đến.
Nay may mắn gặp được các cháu ở Trung tâm Thông tin và Cứu hộ chó mèo nơi đáng tin cậy, ông bà giáo có thể yên tâm gửi gắm con Vằn cùng với đàn con của nó.
Ông giáo bày tỏ thật lòng với các bạn trẻ:
-Hai bác chân thành cảm ơn các cháu đã giúp đỡ đưa được ổ chó con và con Vằn vào nhà. Lúc đầu có sự hoài nghi, nhưng theo dõi cách làm việc, bác tin rằng các cháu là những chàng trai, cô gái tốt, có tấm lòng thánh thiện, cùng với sự nhiệt tình và niềm đam mê - Ông giáo ngừng lời, nhìn lướt qua từng gương mặt, như để kiểm nghiệm lại một lần nữa, rồi nói dứt khoát - Chó con, bác không thể nuôi hết cả đàn, chỉ giữ lại một bé thôi! Còn chó mẹ, bác không thể nhốt mãi được. Thả ra nó lại đi hoang, hai bác cũng không yên lòng. Các cháu đem luôn con Vằn về trạm nuôi. Thỉnh thoảng hai bác sẽ đến thăm mẹ con chúng nó.
Cô gái ngồi soi đèn nhấc ra bỏ vào, như ước lượng nặng nhẹ, xem xét từng con một. Con Vằn nằm yên hiền lành như đang ngủ.
Cô gái ngước nhìn ông giáo nói:
-Các bé sống với mẹ ngoài bụi bờ bấy lâu nay, có nhiều việc cần phải làm ngay từ ban đầu: Ve rận, giun sáng, tiêm phòng…Chúng cháu xin đem về hết. Xử lí xong, vài ba ngày nữa bác ghé xuống, thích bé nào bắt bé đó về nuôi. Nếu bác bận quá không ghé được thì cháu sẽ đem đến nhà. Khi nào không thích nuôi nữa thì trả lại cho chúng cháu.
Ông bà giáo vui vẻ đồng ý:
-Các cháu đem về xử lí giúp bác đi!
Ông bà giáo phụ giúp khiêng chuồng chó đặt lên xe. Con Vằn đang nằm ôm con bỗng đứng dậy dí mũi vào cửa chuồng ngoắc đuôi.
Giọng bà giáo hơi buồn:
-Kìa ông! Con Vằn nó chào tạm biệt đấy!
**
Sáng hôm sau, tại “Nhan Cu… Café Quán”, ông giáo tường thuật lại chuyện giải cứu cứu ổ chó khi đêm.
Mấy người bạn vui tính của ông giáo được dịp hâm nóng chuyện con Vằn “đi hoang”. Lại luận bàn, tranh cãi, những ý kiến trái ngược nhau:
-Ở thành phố ta có một tổ chức như thế à! Nghe có lí he! Ở phương Tây, ai mà cư xử thô bạo với chó mèo là bị đưa ra tóa án xét xử đấy nhé! Việt Nam ta cũng sắp Tây hóa rồi các bác ạ!
-Ở ta bây giờ làm gì có những tổ chức gọi là “Phi lợi nhuận”? Mọi việc làm phải là lợi. Lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, Lợi ích tập đoàn… Tất tần tật phải là lợi ích qui ra bằng tiền - Lại lên giọng chứng ming hùng hồn- Trên đài, trên ti vi cứ ra rã suốt ngày đó: Bạn trả lời được câu này là có năm triệu. Cháu tìm được từ này là có ba triệu. Em hát được bài này có …triệu nọ triệu kia… vân vân… và vân vân…Đúng không nào?
-Vợ chồng bác giáo bị lừa rồi! Bọn xấu bây giờ cũng ranh ma đáo để lắm! Chúng nó theo dõi kĩ rồi, tính toán đến ngày chó theo mẹ kiếm ăn, chuẩn bị tách đàn là bắt. Thất nghiệp, nghiện hút, đề đóm…Bắt chó con đem bán đấy các bác ạ!
-Ông giáo nói là họ có đầy đủ giấy tờ và cả tin nhắn a ? Những thứ đó không là gì cả. Công nghệ thời nay tinh vi lắm. Tiền mà còn làm giả được. Tướng tá Công an cũng giả được kia mà. Chắc chắn là trò lừa bịp rồi!
-Đúng là “Công anh bắt tép nuôi cò
Cò ăn cò lớn cò giò lên cây”
-Các bác mất niềm tin quá rồi đấy nhé ! Cuộc đời này còn có biết bao nhiêu con người tốt, việc làm lương thiện: Cơm cháo tình thương, xây nhà tình nghĩa, cứu giúp người nghèo, người già cô đơn, trẻ em không nơi nương tựa, bị bỏ rơi… cũng vân vân…và vân vân… như thế. Cứu hộ chó mèo là một việc làm mới đấy các bác ạ! Mình phải tin và cổ xúy cái mới chứ nhảy!
Ông giáo chỉ ngồi nghe, chờ khi vãn chuyện mới lên tiếng :
-Đợi vài hôm nữa, tôi đến tận nơi sẽ có câu trả lới chính xác nhé ! Tin cũng được mà không tin cũng được, thì chúng ta nên tin.

Chương XIV. ĐỀN ÂN

Đúng hẹn ba ngày sau, ông bà giáo đến Trạm Thông tin và Cứu hộ chó mèo Đà Nẵng.
“Gia đình” con Vằn được ở trong một cái chuồng khá rộng. Các con ôm quấn lấy nhau nằm một góc. Con Vằn nằm bên cạnh gác mõm thảnh thơi.
Thấy ông bà giáo đến con Vằn nhận ra ngay. Ông giáo vào trước. Con Vằn nằm ngước mắt nhìn và vẫy đuôi. Bà giáo vào sau con Vằn đứng dậy đi ra cửa chuồng, ngước mõm rung tai “hít…hít…”. Đó là cử chỉ đặc biệt thân thiện, con Vằn dành riêng đón tiếp bà giáo.
Ông giáo chỉ vào con Vằn vừa nói vừa cười rất vui:
-Các cháu thấy không? Đây là thái độ phân biệt đối xử. Thấy ông vào, nó nằm ôm con ngoe ngẫy cái đuôi. Nhưng khi thấy bà đến nó đứng dậy liền, ra cửa đón mừng, lại còn “hít…hít…” nữa chứ. - Ông giáo nhìn bà giáo, niềm vui lộ qua ánh mắt, rồi trại giọng phân trần - Xét về công lao với mệ con nhà nó, chắc chi bà hơn tui. Bao nhiêu lo toan cực nhọc, không chỉ một mà hai lứa đẻ. Bà chỉ lo cho en. Đúng là loài chó! Chỉ chỉ biết miếng en là trên hết!
Lúc đầu ông bà giáo định đón chú cún to nhất đàn, lông màu vàng có vằn đen giống mẹ. Nhưng sợ một con lẻ đàn sẽ buồn, nên chọn tiếp cún út đàn. Út đàn nhưng hình dáng rất đẹp: Lông màu đen tuyền. Mặt có thêm hai chấm trắng tạo nên đôi mắt giả thành “chó bốn mắt”. Bốn chân đều có khoang màu trắng, trông như chó đi ủng.
Các cháu ở trạm cho biết thêm rằng, bé út này nhút nhát, thấy người lạ là chui trốn; ngoan hiền biết nhường nhịn bầy đàn, không tranh ăn, đến bữa chờ các bé khác ăn xong mới đến ăn sau cùng. Còn thì ăn, hết thì thôi, chứ không vòi vĩnh đòi hỏi.
Hai chú cún còn lại nội trong ngày sẽ có nguời đến đón về. Ai đến Trạm hễ thấy chó con là đăng ký xin ngay; dù đã đăng kí rồi, nhưng đến chậm chân là có thể mất suất.
**
Đón hai chú cún con về nuôi, nhà ông bà giáo vui tưng bừng. Tiếng trẻ con lao nhao í ới. Chỉ sang ngày hôm sau, bọn trẻ quanh lối phố thông tin cho nhau rằng, nhà ông giáo có mấy con cún dễ thương, lại còn thêm “cún con mồ côi” cho có vẻ lâm li.
Các cháu thay nhau kéo tới. Đứa nào học buổi sáng thí đến buổi chiều và ngược lại. Các cháu cứ léo nhéo gọi “Ông ơi ông ! cho con xem chó với!”, “Ông ơi! Thả chó ra chơi với con!”.
Một khoảnh vườn cỏn con không chứa đựng nổi tiếng nói cười của bọn trẻ, không đủ tầm xa cho cún chạy nhảy tung tăng.
-Ông ơi mấy con này tên gì?
-Mới đem về, ông chưa đặt tên.
Thế là bọn trẻ thi nhau xướng tên: Mic, Ky, Mực, Tin, Nu, Toa...Toàn những tên đặc chủng chó. Ông giáo nghe hết và thống nhất với các cháu là, chó của ông thì do ông chọn. Ông giáo cũng cho trưng cầu ý kiến và chọn dáng đặt tên: Con màu vàng là “Ong Vàng” - Rất Việt Nam. Con màu đen chân hơi lùn là “Lu Lu” - nghe có vẻ Tây lai.
Cuối cùng ông giáo phải qui định một cái lịch, gọi là lịch “cho chó ra chơi”: Buổi sáng sau mười một giờ, buổi chiều sau mười bảy giờ.
Cứ đến giờ là bọn trẻ lại kéo đến. Với lứa tuổi ấy thì đủ trò, chơi với cún con như với bạn:
-Hai em không được tranh nhau nhé!
-Này vào vạch xuất phát, chuẩn bị chạy thi. Đứa nào đến trước thì được ăn nhé. Sẵn sàng… Chạy!
-Ông ơi! Con Ong Vàng giành ăn hết phần con Lu Lu rồi!
-Thương nhất là em Lu Lu! Hiền quá là bị đói nghen em!
-Ông ơi! Có con gì trong lỗ tai con Lu Lu đây nè!
Bọn trẻ rất được việc, phụ giúp ông giáo chăm cún: Bưng cơm, giữ cho ông chải lông, bắt rận, xịt nước tắm, … Chỉ có bọn acheter du cialis en ligne trẻ mới giữ được cún con đứng yên. Ông giáo bảo “Nằm im!”, cún con vùng ra chạy. Bọn trẻ vỗ tay “Đừng chạy!”, cún con vâng lời.
Ông giáo dễ tính. Cháu nào yêu thích và ngoan, ông giáo cho mượn cún con đem về nhà chơi!
**
Trạm Thông tin và Cứu hộ chó mèo nhắn tin đến: “Hai bé còn lại đã được khách đón về hết rồi. Mẹ Vằn đã bỏ trốn ba ngày nay!”. Các cháu còn nói thêm rằng, chỉ một lúc sơ hở khi cho mẹ Vằn ăn quên đóng cửa chuồng. Ngôi nhà bốn tầng luôn đóng cửa. Vậy mà không biết mẹ Vằn thoát ra bằng cách nào?
Đúng là “Siêu chó!”. Máu hoang dã có đường chảy riêng của nó!
Ông giáo cảm thấy bất an chứ không còn lo lắng nữa. Bởi con Vằn đã bỏ đi là rất khó tìm. Trừ khi nó tự nguyện trở về. Chắc chắn điều đó sẽ không xảy ra. Vì nó vừa mới trải qua một cơn chấn động bị vây bắt. Hiện giờ lại mất luôn các con!
**
Hết giờ “cho chó ra chơi” buổi sáng. Ông giáo lấy ống tre cầm rựa ra vỉa hè ngồi vót đũa. Đến tận bây giờ mà ông giáo vẫn thích cầm đôi đũa tre ăn cơm. Theo ông giáo thì đũa tre nhẹ, nhỏ và cứng. Gắp miếng nào được miếng nấy, chứ không nặng và trầy trật như đũa nhôm hay đũa mun. Thời buổi bây giờ hiện đại quá rồi, còn sót cái gì của quê mùa gắng mà giữ!
Ngồi vót đũa nhưng tâm trí ông giáo lại nghĩ về con Vằn. Nếu con Vằn ở đây, dù không vào nhà, nhưng có cái cho nó ăn, có nhà xe và bãi cỏ cho nó nằm. Còn có cả những người bạn vui tính của ông giáo, họ biết nó là con chó nhà ông. Khi cần còn có người bảo vệ nó. Bây giờ đi rông ngoài đường nơi đất lạ như vậy, sẽ là mồi ngon cho bọn chó xứ người "Chó ỉ gần nhà, gà ỉ gần vườn", là mục tiêu của bọn Cẩu ‘tặc’. Có biết bao nhiêu hiểm nguy đang rập rình quanh con Vằn!
Ông giáo đang miên man với những suy nghĩ mông lung không đầu không cuối. Bỗng dưng có tiếng ai đó hét lên:
-Ông giáo! Con rắn kìa!
Ông giáo giật thót ngoái đầu nhìn lại phía sau.
Con Rắn!
Chao ơi! Con rắn thật! Da đen bóng lấp lánh như điểm kim tuyến, to bằng cổ tay – Con rắn Hổ mang chúa!
Hổ mang chúa là loại rắn cực độc - Độc nhất thế thế giới. Hổ đất, hổ mang bành hay hổ mây…cũng chính là nó. Hổ mang chúa chủ động tấn công người. Khi nó đã tấn công ai là khó thoát. Nọc độc nhấm vào cơ thể làm tê liệt hệ thần kính trung ương, suy hô hấp, rối loạn tuần hoàn, phá hủy nội tạng, gây hôn mê. Và…chết trong thời gian ngắn.
Con rắn hổ mang chúa đang vươn cao như cây gậy. Mồm bành ra to như cái vĩ đập ruồi. Hai con mắt long lanh như hai hạt cườm, nhìn bất động. Ông giáo bủn rủn chân tay, nói thầm, “không còn là rắn nữa mà đã hóa mảng xà!”. Cái lưỡi phun ra như hai tia nước đen ngòm đang múa. Cái đầu gục gặc, chờn vờn, lại phát ra tiếng “huýt”.
Mảng xà đang xác định mục tiêu và lấy đà lao tới. Ông giáo cuống chân không thể đứng dậy được. Hai tay cầm chặt cái rựa định vung lên chống trả. Nhưng đôi tay bất lực. Cái rựa nặng như chùy. Ông giáo trừng mắt nhìn con rắn buông xuôi cho số phận!
Bỗng có một cái bóng xẹt vào như tia chớp
-Phập! Oạch!
Ông giáo há hốc miệng định la lên. Nhưng xương hàm cứ cứng đơ đơ. Mãi một lúc sau mới phát ra thành tiếng. Tiếng nọ díu và tiếng kia:
-Trời ơi! Cái gì thế này! Con Vằn! Con rắn! Con Vằn!
Ngay dưới chân ông giáo, con Vằn và con rắn quyện chặt lấy nhau. Toàn thân con rắn biến thành cái lo xo đen như mun lấp lánh quấn chặt con Vằn, riết mạnh từng hồi. Cái chót đuôi cong vòng như lưỡi câu tìm cách móc vào hậu môn con Vằn.
Con Vằn đánh trả lại quyết liệt. Mõm bập chặt cổ con rắn, nghiến đi nghiến lại. Con Vằn gồng mình lên co bốn chân cào cấu, lăn lộn. Móng vuốt con Vằn cứng và sắc bén như lưỡi lê. Mỗi một nhát cào cấu vỏ rắn rách bung, tưa máu.
Mọi người bắt đầu chạy tới, nhiều tiếng la ó chen nhau : “Đập chết loài rắn độc đi!”, “Chém! Chém ngay đi!”, “Đập dập đầu kẻo nó chạy mất!”
Có ai đó đến giật cái rựa trong tay ông giáo. Ông Giáo giật lại la lớn:
-Không thể chém được! Chém con rắn là chặt đôi con Vằn đấy!
Mọi người nín thở vây quanh xem cuộc tỉ thí giữa hai con vật: Chó Vằn - rắn độc.
Chúng lăn đến đâu, vòng người giãn ra đến đó.
Bọn trẻ con đồng thanh hò reo cổ vũ:
-Hai… ba…Vằn ơi! Cố lên!
- Hai… ba…Vằn ơi! Cố lên!
- Hai… ba…Vằn ơi! Cố lên!
Đòn sát thủ quyết định hạ gục kẻ thù: Con Vằn co cong người như cánh cung, rút bốn chân chụm lại, dồn công lực bằng một cú giẫy đạp phá bung ra cực mạnh. Nghe một tiếng “cụp” khô khốc.
Cái đầu rắn lập tức bị cắt rời. Thân con rắn lăn dài ra, mềm nhũn như sợi bún.
Con Vằn bật dậy xé vòng người lao vọt ra bãi cỏ. Ông giáo chạy đuổi theo nhưng con Vằn đã mất bóng.
Ông giáo quay lại ôm ngực thở dốc, nói đứt đoạn:
-Con Vằn nó …nó cứu tôi! Con Vằn đã cứu tôi các bác ạ! - Ông giáo lại ôm ngực. Tiếng ho như bị kiềm nén không thoát ra được, khiến ông tức thở - Phải tìm bằng được để giữ nó lại. Nó đã về đây rồi thì nhất định không đi đâu xa, chỉ trốn quanh đâu đây thôi. Bà con ơi ! Hãy tìm giúp con Vằn cho tôi…!
Ông giáo ngước mặt đưa hai tay lên trời như khấn vái. Đang định nói điều gì nhưng ông lại cắn môi im lặng.
**
Suốt mấy ngày ông giáo đi vòng quanh tìm kiếm con Vằn. Hết dạo dọc theo những con phố, lại vào vạch từng bụi cỏ trong những lô đất trống. Không tìm thấy con Vằn ông giáo đi lang thang như kẻ bị chứng mộng du.
Bà giáo lo lắng! Cứ tình trạng này chắc ông giáo sẽ ốm. Và đến ngày thứ năm, ông giáo ngả bệnh thực sự. Chiều về cảm thấy mệt mỏi, hâm hâm sốt, đo mạch nhiệt đều tăng. Nhưng trái tính không chịu đi bệnh viện.
Bác sĩ đến thăm khám nói rằng, bệnh tình không có gì nghiêm trọng. Ông giáo có biểu hiện suy nhược thần kinh vì có điều gì phải lo nghĩ nhiều. Tâm thần bấn loạn. Thể trạng bất an. Không cần phải thuốc thang gì nhiều, chỉ giữ sự yên tĩnh, nghỉ ngơi một thời gian sẽ ổn định.
Sau khi suýt bị con rắn hổ mang chúa vồ và con Vằn mất tích, ông giáo bị sa sút tinh thần. Âu lo quấn chặt. Một chuỗi dài những câu hỏi được đặt ra:
Từ trạm thông tin về đây cách xa hàng chục cây số. Đường đi cách trở, phải qua cầu Thuận Phước dài gần hai ki lô mét, bắc qua đoạn cuối con sông Hàn giao nhau với biển. Phố xá vòng vo, loanh quanh rối mắt. Chính ông bà giáo đi lại mấy lần vẫn không nhớ đường chính xác. Ai dẫn lối đưa đường con Vằn trở về?
Con Vằn trở về từ khi nào? Nó về để tìm ai? Ông bà giáo, hay những đứa con của nó? Và con Vằn ẩn ở đâu, mà khi con rắn hổ mang chúa vươn mình, phùng mang, huýt còi vồ ông giáo thì nó kịp thời lao đến vặt cổ tên rắn độc cứu ông!
Những câu hỏi cứ xoáy sâu vào lòng, dẫn dắt ông giáo đi. Ông đi mãi mà không tìm thấy lối ra! Chỉ có con Vằn mới biết, nhưng nó là con chó không nói được tiếng người. Hiện giờ không biết con Vằn đang ở đâu?
Không nói ra, nhưng trong thâm tâm ông giáo lo cho con Vằn. Nỗi lo bầm tím ruột gan. Trong khi quần nhau, có thể con Vằn bị nhiễm nọc độc từ con rắn hổ mang chúa! Mỗi vết cắn của rắn hổ mang chúa, giáng một đòn nọc độc có thể giết chết một con voi trưởng thành trong vòng vài giờ.
**
Không tìm thấy mẹ Vằn, hai cún con của nó - Ong Vàng và Lu Lu - trở thành niềm an ủi ấm lòng đối với ông bà giáo. Số kiếp mẹ Vằn long đong hoang dã không ở được với ông bà, thì nó gửi lại hai mụn con. Coi như đó là sự báo đền ân sâu nghĩa nặng!
Hằng ngày ông bà giáo để Ong vàng và Lu Lu chạy chơi tự do trước ngõ, hy vọng “nhữ” mẹ Vằn tìm về chơi với các con!
Thỉnh thoảng ông giáo thả Ong Vàng và Lu Lu ra bãi cỏ trước nhà. Nơi ấy mới thực sự là sân chơi của chúng, tha hồ chạy nhảy, vật nhau, đào bới, chui rúc… trong cỏ lau.
Khi nghe ông giáo vỗ tay gọi: “Ong Vàng...! Lu Lu…! Về đi…!”. Lập tức hai chú cún ngẩng cao đầu, kịt mũi, rung tai…phát sóng định hướng. Rồi như hai con tuấn mã hồi cung, thi nhau phi một mạch về nhà.
Mỗi lần như thế, ông giáo lại thì thầm: “Nếu có thêm mẹ Vằn chạy theo sau, thì bãi cỏ hoang này bừng nắng!”

MỤC LỤC
CHÓ HOANG
(Truyện dài)

I. “Nhan cu…Café Quán” và Những vị khách vui tính. Trang 2
II. Vợ chồng ông giáo Trang 7
III. Con Vằn “đi hoang” Trang 14
IV. Ông bà giáo với con Vằn Trang 17
V. “Hoa khôi” bãi cỏ hoang Trang 23
VI. Chó mẹ và đàn con đẻ rơi Trang 29
VII. Ổ chó con Trang 36
VIII. Lẻ đàn Trang 42
IX. Tình mẹ con Trang 46
X. Nỗi lòng người mẹ Trang 55
XI. Chuyện của cô gái lạ Trang 61
XII. Tìm kiếm Trang 68
XIII. Cuộc giải cứu lúc nửa đêm Trang 72
XIV. Đền ân Trang 83