prix viagra pharmacie
Hôm nay: Thứ 3, 11 - 21 - 2017 / 0:37:42

ĐEM THEO CAI TÂM ĐI LÀM TÍN DỤNG


         Tôi vừa đến cổng Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Đà Nẵng thì một chiếc xe chuyên dùng màu trắng cũng vừa trờ tới. Bước xuống xe là một người phụ nữ tầm thước, nước da ngăm ngăm, gọn gàng trong bộ trang phục com lê công chức màu tím than, bước đi nhanh nhẹn. Bóng chị khuất ngay ở đầu cầu thang. Tự nhiên tôi có linh cảm rằng, hình như đây là người tôi sẽ gặp ngay chiều nay.

         Đúng như thế! Tôi bước vào phòng khách, người phụ nữ ấy đã đợi sẵn. Anh Nguyễn Lợi chưa kịp giới thiệu thì chị đã đứng dậy bắt tay tôi rất thân thiện:
-Chào anh! Tôi là Phùng Thị Kiên, ở Chi nhành Hòa Sơn. Còn anh là... tôi có gặp rồi, biết rồi.
-Vâng! Cảm ơn chị!
Tôi nói “Vâng” và “Cảm ơn chị” cho phải phép xã giao như thế, chứ thực tình tôi không thể nhớ ra đã gặp ở đâu, nhưng cũng nhận thấy ở chị có những nét quen quen.
 “Không nên hỏi tuổi một cô gái, cũng như đừng hỏi tuổi một bông hoa”. Ngồi đối diện tôi là một người phụ nữ đứng tuổi. Tôi ước đoán tuổi chị độ chừng năm mươi. Tôi tin là mình đoán gần chính xác, bởi trên gương mặt chị không hề có một nét trang điểm. Nổi bật trên khuôn mặt ấy là nụ cười chân thật và đôi mắt sáng; nhìn kỹ, ở chị còn có những nét hơi phong trần. Có thể nói đây là một người không thuộc giới phụ nữ đẹp, nhưng mạnh mẽ, từng trải và có sức thuyết phục mọi người.
 Chắc anh Nguyễn Lợi đã cho chị biết ý định của tôi, nên không đợi tôi đặt vấn đề gợi mở, chị vào chuyện ngay:
-Năm 1978 tốt nghiệp Trung cấp Ngân hàng, tôi về làm việc tại Ngân hàng tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng, năm 1981 về Ngân hàng Hòa Vang. Tính đến nay tôi có hai mươi bảy năm làm cán bộ ngân hàng, trong đó hết hai mươi năm làm công tác tín dụng. Người ta thường nghĩ rằng, trong tay sẵn có đồng tiền thì muốn làm chi cũng được. Nhưng đâu phải thế! Phải là người trong cuộc mới hiểu nổi cái khó khăn, cái dư vị đắng lòng. Đem đồng tiền đến cho nông dân nghèo vay không dễ như chơi hụi, chơi biêu - Đã có thời gian làm công việc cho vay Vốn Quốc gia giải quyết việc làm (gọi tắt là Chương trình vốn 120) của Chính phủ, nên tôi dễ thông cảm và chia xẻ với chị Kiên. Ngừng một tý rồi chị nói tiếp, giọng ấm áp và cách dùng từ ngữ rất địa phương - Làm công tác tín dụng ở nông thôn, muốn được việc thì phải gắn bó với dân, mới sáng tờ mờ đã đi, đêm tối khuya lơ mới về, trưa đến nhà mô ở lại nhà nớ, họ ăn chi mình ăn nấy. Hơn bốn năm ăn ở với nhân dân Hòa Phước, Hòa Tiến, Hòa Xuân, giúp họ vay vốn, cùng bà con tìm cách làm ăn, vịn tay nhau cùng vượt qua cái khó, cái nghèo. Đó mới thực sự là trường học chuyên ngành tín dụng của tôi.

 Hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn không chỉ có kinh doanh tiền tệ, đầu tư phát triển sản xuất, mà còn có một nhiệm vụ rất lớn đối với sự nghiệp phát triển nông nghệp-nông thôn: Cho vay xóa đói giảm nghèo.
 Được giao trực tiếp điều hành kênh vốn giành cho người nghèo, trong lòng chị Kiên có nhiều lo lắng và trăn trở: Nhân dân Hòa Vang mà điển hình là Hòa Tiến, trong kháng chiến đã hy sinh nhiều như thế, anh hùng dũng cảm chẳng kém ai; nay hòa bình rồi lại chịu cảnh nghèo khó quanh năm. Đó là sự bất công. Những lực điền bao đời bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, mà chỉ biết tính tiền đồng, tiền chục, gạo lon; nay nhìn thấy bạc triệu, tiền trăm lại không dám vay vì sợ nợ nần lâm lụy. Đó là một nghịch lí. Chính vì tại bấy lâu nay dân ta khổ với cái nghèo nên sợ luôn cái nợ, nhưng cái nợ cũng có ba bảy đường. “Cho nhau vàng không bằng trỏ đàng đi buôn”. Cách nghĩ của người xưa, nhưng rất phù hợp với nếp sống cộng đồng ngày nay. Cho người ta mượn cái vó rồi, cần phải mách bảo thêm cho người ta chỗ nào có cá, có tôm .
 Với những suy nghĩ tâm huyết như thế, chị Kiên đi làm tín dụng từ Quỹ cho vay xóa đói giảm nghèo như làm công việc của nhà mình; quan hệ với các hộ nông dân vay vốn như họ hàng thân thiết, như anh em ruột thịt trong gia đình. Bước ra khỏi nhà là gần như chị hóa mình vào công việc, hòa tan với cộng đồng. Chính vì sống trực tiếp cùng nông dân nên chị hiểu được căn nguyên nghèo khó; đồng thời cũng nhận thấy hết tiềm năng sức lao động và cả sự mặc cảm trước cảnh nghèo.
Nhận thấy chỉ có kiến thức chuyên ngành Ngân hàng chưa đủ, chị Kiên tự nghiên cứu thêm lĩnh vực nông nghiệp, tìm hiểu chất đất, quy mô ao vườn, chọn giống cây con, ngành nghề truyền thống...và đi đến tận hộ gia đình hướng dẫn cách tổ chức làm ăn, cách thức vay vốn theo từng loại hình sản xuất. Thuyết phục được người nông dân vay vốn đầu tư sản xuất không phải dễ, phải để họ “suy nghĩ trên luống cày” và tin bằng mắt, bằng tai.
Mưa dầm thấm lâu. Công việc tuyên truyền vận động phải đến từ nhiều phía, trực tiếp đến hộ gia đình, thông qua Chính quyền và các tổ chức Hội và Đoàn thể. Số hộ vay vốn ban đầu nuôi con heo, con gà; thấy có hiệu quả, trả xong nợ lại vay tiếp, lượng vốn tăng dần, quy mô sản xuất mở ra. Tiếng lành đồn xa, tiến đến các hộ đại trà quy hoạch ao vườn nuôi cá, trồng rau, cây ăn trái. Đức tính đáng quí của bà con nông dân là cần cù và chân thật. Cần bao nhiêu tiền thì vay bấy nhiêu, nếu Ngân hàng có thừa vốn cho vay thêm cũng không nhận. Lúc đầu từ một đến vài ba triệu, chu kì sau sản xuất mở ra có thể vay khá hơn đến mươi triệu. Sử dụng vốn vay đúng mục đích và có trách nhiệm, đó là bản tính rất đáng quý trọng của các hộ nông dân nghèo. Người nghèo thường trọng nhau chữ tín. Nợ có vay đến kỳ phải trả. Nếu vốn còn đọng trong nông sản, hàng hóa, thì chị Kiên mở đường đi vay mượn tạm thời, có sự bảo lãnh của Ngân hàng hoặc Chính quyền để trả chứ không để phát sinh nợ quá hạn; rồi vay tiếp chu kì sau. Thực tế dần dần kiểm chứng, nhiều hộ qua một vài chu kỳ vay vốn, chăm chỉ làm ăn, đời sống khá dần lên trông thấy: Năm 1994, xã Hòa Tiến có 3.221 hộ thì đã 246 hộ đói; đến măm 2000 hết hộ đói, chỉ còn lại 64 hộ đang vươn lên thoát nghèo. Và cũng trong thời kì nầy, xã Hòa Tiến được tuyên dương đơn vị “Anh hùng lao động” sau 10 năm xây dựng và đổi mới.
 Nay về vùng Hòa Tiến, Hòa Phước, Hòa Xuân, nếu hỏi đến chị Kiên “ngân hàng”, nhiều người biết. Chị đã thở thành người bạn của Nhà nông.
 Khi nói về cách thức làm ăn của các hộ gia đình, chị Kiên có những nhận xét rất thực tế:
 -Người nông dân suốt bao đời gắn bó với đất đai, muốn khá lên cũng phải biết bắt đầu từ ao vườn, đất đai, chuồng trại. Nhưng không thể sốt ruột làm giàu ngay một sớm một chiều bằng cách “đánh quả ăn xổi ở thì”, mà phải cứ chịu khó đầu tư cày bừa thì mùa vàng không phụ.
  Ơn trời mưa nắng phải thì
Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu
Công lênh chẳng quản bao lâu
Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.
 Nhờ sống cùng với bà con nông dân nhiều, nên khi nói chuyện, chị Kiên hay vận dụng những câu ca dao, tục ngữ khá nhuần nhuyễn, sinh động ý tứ và có sức thuyết phục.
 Một trong những niềm vui lớn của chị Kiên là cho vay vốn phục hồi làng chiếu Cẩm Nê ở Hòa Vang-Một loại chiếu tốt và đẹp nổi tiếng khắp vùng, đến nỗi các vua chúa triều Nguyễn ở Kinh thành Huế cũng chọn chiếu Cẩm Nê đem trải giữa cung đình. Có lao động dôi thừa, có bàn tay nghệ nhân, có thương hiệu, nhưng lại thiếu vốn, cứ ngỡ rằng sẽ đành đoạn xóa tên một sản phẩm làng chiếu nổi danh. Nhưng chị Kiên đã hướng dẫn bà con làm dự án, thành lập Tổ vay vốn làm chiếu, do ông Lê Công làm tổ trưởng; ban đầu với 12 lao động vay 31 triệu đồng, sau phát triển dần tăng vốn vay lên 60 triệu. Nghề làm chiếu được phục hồi, hàng chục lao động có viềc làm và sản phẩm chiếu Cẩm Nê nổi tiếng đã trở lại với thương trường.
      *
 Năm 2001, chị Kiên được chuyển về làm Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hòa Sơn, thực hiện công tác cho vay ở các xã Hòa Sơn, Hòa Ninh, Hòa Bắc và Hòa Liên. Làm giám đốc kiêm cán bộ tín dụng, nói đến đâu làm đến đấy. Đó là nét nổi bật ở chị.
Bốn năm làm tín dụng ở Hòa Tiến, Hòa Phước và Hòa Xuân, chủ yếu là Quỹ cho vay xóa đói giảm nghèo, vui buồn gói gém cùng lưng vốn kinh nghiệm chị đem về xứ Hòa Sơn. Nó đã giúp ích rất nhiều cho chị trong công việc, nhưng chưa đủ. Đây là địa bàn thuộc các xã miền núi phía Tây -Bắc của huyện Hòa Vang, đời sống nhân dân đại bộ phận còn nghèo, còn nhiều khó khăn hơn các xã khác. Cảnh đói nghèo, bệnh tật và cả tệ nạn xã hội luôn rập rình đe dọa. Có những vùng hẻo lánh, việc đi lại khó khăn. Muốn lên thôn Tà Lang, Giàng Bí xã Hòa Bắc phải xuyên rừng lội suối, muốn sang thôn Trường Định xã Hòa Liên phải chịu cảnh ngăn sông cách đò. Chị Kiên cùng đồng nghiệp mang vốn lên rừng giúp đồng bào Cơ-tu phát triển chăn nuôi gia đình, trồng lúa nước, làm nhà mới...cái bụng bớt nhớ cái rừng, xa dần cảnh đời rày đây mai đó, trở về định canh định cư, ổn định cuộc sống lâu dài. Trường Định trước đây thuộc diện nghèo của xã Hòa Liên, nhưng nhờ vay vốn ngân hàng phát triển chăn nuôi bò, nay đã vươn lên trở thành thôn giàu nhất xã.
Làm cán bộ tín dụng đi cho hộ nông dân vay ở vùng nầy không những đi sớm về tối, mà nhiều hôm còn phải đi làm vào ban đêm.
Nghe đến chuyện phụ nữ mà đi cho vay, đi thu nợ vào ban đêm, tôi hỏi hơi tò mò:
-Ở vùng nầy nghe nói có cả đối tượng là “Đầu gấu”, “Lâm tặc”; cảnh đêm tối thân gái dặm trường như vậy, chị không sợ à?
-Chuyện gì phải sợ, không thể đụng được đến tôi đâu. Họ còn là khách hàng của tôi nữa đấy!
Tôi thực sự bất ngờ trước câu trả lời thản nhiên của chị.
Ở vùng Hòa Sơn, diện vay vốn không những là hộ nông dân, mà chị Kiên còn mạnh dạn mở rộng cho vay đến các đối tượng xã hội đã có những bước lỡ lầm. Dù mới ở tù ra, giã bước giang hồ trở về, tại sa đà rượu chè, cờ bạc, nghiện ngập...nên mới khổ, mới nghèo. Nhưng tất caø họ cũng đều là con người, cảnh nghèo hèn không ai mong muốn. Giúp ngặt chứ không giúp nghèo, có điều kiện thì phải giúp họ, để người ta vượt qua được bước ngoặt éo le mà đứng dậy với đời.
Từ những suy nghĩ rất tình người như thế, chị Kiên đã tìm đến với “Những mảnh đời còn lại”, trước là thăm, sau là bày vẽ thuyết phục và vận động họ vay vốn tổ chức làm ăn lương thiện.
Ở vùng Hòa Khánh không ai lạ gì với cái tên Châu ”đen”, một thời là dân đầu gấu; nay nghe theo chị Kiên trở về đào ao nuôi cá, cầm sào chăn vịt. Chị Nguyễn Thị Nga ở thôn An Hải Tây 3, Hòa Sơn; vừa mới ra tù, được chị Kiên bày vẽ vay từ 7 triệu, rồi lên 10 triệu đem về trồng sả, nuôi heo; nuôi ba con tiếp tục ăn học và trưởng thành. Nay chị Nga đã làm bà ngoại.
 Chị Kiên thức tỉnh mọi người, mọi người tự thức tỉnh và mách bảo nhau hãy sống lương thiện trên chính sức lực của mình. Và họ tự nguyện đến với chị.
Anh Bùi Đức Quí, anh Nguyễn Nhơn ở Hòa Liên đaù lỡ đà trượt chân vào đường nghiện ngập, cờ bạc, rượu chè, nay biết kéo nhau đứng lại, vay vốn sắm ghe đi khai thác cát sạn. Lúc đầu vay ít đem hùn vốn, sau vay tăng dần tách vốn làm độc lập, chí thú với sông nước, bãi bồi, chăm lo ổn định cuộc sống vợ con. Ngày chị Kiên đến nhà vận động làm đơn xin vay tiền, vợ các anh nầy xua tay từ chối, vì lo sợ các đức ông quen thói, nay sẵn đồng tiền cứ bù đầu uống, hút và chơi luôn cả vốn, kết cục vợ con còng lưng gánh chịu nợ nần.
Những đối tượng như thế trên vùng đất Hòa Sơn, Hòa Liên còn nhiều và chắc sẽ nhiều thêm.
Nếu với một nếp nghĩ bình thường, thì một người làm công tác ngân hàng không dám mạo hiểm đầu tư vốn vào những đối tượng có yếu tố rủi ro cao như thế. Nhưng chị Kiên đã dám làm và làm được.
Chị Kiên còn có một “khách hàng” đặc biệt, tên là Hoàng Minh Lai, trong lúc ốm đau rất nặng, ông sai người nhà đến gọi cửa ngân hàng. Chị Kiên đem quà đến nhà thăm, thấy ông có bốn con đã lớn, vợ chăm chỉ tảo tần nhưng không có tiền, chị hướng dẫn và cho vay vốn nuôi bò, sửa nhà và chữa bệnh. Sau khi ông qua đời, chi Kiên mới biết rằng ông nguyên là Huyện Uíy Viên ở một huyện miền núi chuyển về quê nghỉ hưu.
Chi nhánh Hòa Sơn hiện có tổng số dư nợ hơn 18 tỷ đồng, trải trên địa bàn bốn xã miền núi phía Tây-Bắc Hòa Vang, công việc giải ngân cho hộ nông dân vay để thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo đã là khó. Nhưng khi đến kỳ thu hồi về lại càng khó khăn hơn gấp bội, chắc chắn là có nhiều dư vị đắng kèm theo cả vốn và lãi.
Khi nghe tôi đặt vấn đề nầy, trên gương mặt chị Kiên có thoáng một chút ưu tư, nhưng rồi cười ngay, giọng hoúm hỉnh:
-Mình vào cửa trước người ta ra cửa sau, cá biệt có nhà sai trẻ con xịt chó cắn, gặp nhau là bất đắc dĩ lắm. Lúc đầu thấy mình là phụ nữ, người ta tỏ ra coi thường, cương trường lý sự ngược xuôi, nắn gân, bắt bí “của Nhà nước chứ của chi cô, hồi mô có thì tui trả”. Phải biết chấp nhận cái thời điểm ”hồi mô” đó. Quan trọng nhất là phải có tính kiên trì, đi lại nhiều lần, tìm hiểu căn nguyên. “Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ nhì nhà dột, thứ ba nợ đòi”, biết là rất khó chịu, nên mình phải chịu khó, đòi bằng được nhưng đừng để mất đi cái tình. Ở làng quê mà để mất một người là sẽ mất tiếp nhiều người.Tình cảm xóm làng có nhiều điều tế nhị lắm.
-Dân nông nghèo mà, người ta cứ “chây ì” ra đó thì chị làm sao?
-Không thể thế được. Có thể nói rằng, tôi còn “chây lì” hơn nhiều, đến nay chưa có một món vay nào mà tôi không đòi được nợ.
-Thế thì chị quá giỏi.
-Các anh đừng quá khen. Phải thu hồi được vốn và lãi, nhưng phải dấu kín mục đích. Khi tôi đến nhà người ta là thăm chơi chứ không đòi nợ. Tôi có quyền phát đơn khởi kiện con nợ ra tòa nhưng tôi chưa dùng pháp lý để hù dọa ai. Cứ làm như ông bà ta dạy, “Dao năng liếc thì sắc, người năng chào thì quen”. Đã quen nhau, thành người trong nhà rồi thì mọi việc sẽ rất giản đơn.
Theo như cách làm của chị Kiên khi đi xử lý nợ, thì chắc là trong sách vở, giáo trình trường Ngân hàng không hề có: Gặp nhau bất ngờ trên đường dong bò ra ruộng cũng có thể thu tiền được, để tiết kiệm cho nông dân nửa công cày. Thấy mấy bác nông dân ngồi ăn nửa buổi nơi đầu bờ, tiện chân ghé đến chơi, nghe tin họ vừa bán được mấy con heo, rủ ngay về nhà thu lãi trước. ”Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”, ta không nên để đến hôm sau. Có tiền nộp cứ thu ghi vào sổ, về cơ quan viết biên lai, đóng dấu gửi trả lại sau; thiếu đủ tính toán rõ ràng, thừa một đồng cũng thối trả. Có như thế mới giữ được niềm tin với dân và cũng chỉ có niềm tin thì chị Kiên mới hòa được với đồng bào như thế.
Tôi được biết, chị Kiên cũng đã được Thống đốc Ngân hàng và Uíy ban Nhân dân thành phố tặng bằng khen, vài ba năm là Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở. Nhưng khi nghe tôi hỏi đến, chắc vì câu hỏi của tôi hơi đường đột, nên chị Kiên trả lời hơi đại khái. Tôi cảm thấy hình như chị không mặn mà với chuyện tuyên dương khen thưởng thành tích của mình. Chị kể sang chuyện những ngày đầu về nhận công tác tại Chi nhánh Hòa Sơn:
Hòa Sơn là vùng đồng bào Công giáo, tỷ lệ giáo dân chiếm đến 90%, cuộc sống cũng không có gì khá hơn nhân dân trong vùng. Mới tiếp cận địa bàn, chị Kiên tìm đến gặp Cha xứ, với hy vọng có được sự cộng tác phía Nhà thờ, tuyên truyền vận động Giáo dân vay vốn thực hiện Chương trình Xóa đói giảm nghèo.
Sau khi chú ý nghe chị Kiên đặt vấn đề xong, Cha xứ trả lời giọng lạnh lùng cảnh báo:
-Ở đây là vùng Công giáo, Giáo dân họ chẳng biết làm gì đâu, nhưng lại hay ăn tiêu bạt mạng. Ngân hàng đem vốn cho vay thì hãy coi chừng.
Nghe lời Cha xứ nói như bị dội một gáo nước lạnh vào đầu, nhưng chị Kiên vẫn bình tĩnh. Chị nghĩ: Chắc có lẽ đây là một lời giáo đầu để thử lòng nhau, chứ với cương vị của người chăn Chiên, Cha xứ không thể nhìn nhận Giáo dân của mình ở góc độ thấp đến như vậy.
Với Cha xứ không cần phải lý lẻ thuyết phục nhiều, chị Kiên đáp lời ngắn gọn:
-Tôi là người ngoại đạo đi làm nhiệm vụ của cán bộ Ngân hàng, thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước. Giáo dân thoát được kiếp nghèo thì Giáo xứ sẽ mạnh. Cảnh nghèo đi liền với cái hèn. Ai cũng mong muốn được sống tốt Đời, đẹp Đạo. Chúng tôi rất mong được sự giúp đỡ của Cha xứ. Không phải giúp tôi mà giúp Giáo dân hiểu được tại Ngân hàng đang có một nguồn vốn vay dành cho hộ nông dân, trong đó có Quỹ cho vay xóa đói giảm nghèo và hãy biết vươn lên bằng niềm tin vào chính sức lực của mình.
Chị Kiên nhấn mạnh hai tiếng “Niềm tin”, bởi với người Công giáo đức tin là rất quan trọng.
Trong quá trình thực hiện cho vay tại Hòa Sơn, theo dõi khách hàng là đối tượng vay vốn, chị Kiên biết có tiếng nói tác động tích cực của Cha xứ.
Cuối năm ấy, nhân dịp Lễ Giáng Sinh, chị Kiên mời lãnh đạo Chính quyền cùng các Đoàn thể ở địa phương đến thăm và chúc mừng Cha xứ. Chủ khách tiếp chuyện nhau, chỉ thăm hỏi sức khỏe và chúc mừng năm mới; không ai đề cập đến chuyện vay vốn, chương trình xóa đói giảm nghèo.
Khi đưa tiễn khách đến giữa sân nhà thờ, Cha xứ nói thay cho lời chào:
-Nếu như các năm trước, thì đến tầm này, phải có đến năm trăm gia đình Giáo dân đến Cha xứ xin tiền về ăn tết. Nhưng năm nay, đến giờ nầy chỉ có khoảng ba chục người.
Cha xứ vốn là người rất kín tiếng. Mọi người đều hiểu và cảm thấy vui với câu nói có nhiều ẩn ý ấy.
 Tìm hiểu qua công việc làm, nhìn phong cách, nghe chuyện kể...của chị Kiên, tôi nhận thấy hình như trong người phụ nữ nầy còn đang ẩn chứa một điều gì đó sâu lắng. Tôi thực sự bắt đầu tò mò và tìm hiểu thêm về cuộc đời chị.
Linh cảm không hề đánh lừa tôi. Chị Phùng Thị Kiên sinh năm 1954, quê ở xã Hòa Châu, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng, sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Cách mạng. Mới chín tuổi chị đã biết đi làm giao liên cho cơ sở Cách mạng vùng ven thành phố Đà Nẵng. Năm 1964  chị vượt Trường Sơn ra miền Bắc, học cấp I ở Kiến An (Hải Phòng), cấp II ở Quế Lâm (Trung Quốc), sau đó học cấp III ở Trường Học sinh miền Nam Đông Triều (Quảng Ninh). Năm 1975 chị bỏ dở chương trình Đại học Nông nghiệp I Hà Nội để về quê, rồi đi học Trung cấp Ngân hàng. Chị tốt nghiệp ra trường và đi làm từ năm 1978 đến nay.
Được biết thêm về chị, tôi tự trách mình là người vô tâm. Chính “những nét quen quen” ban đầu khi mới gặp chị đã giúp tôi nhớ lại: Ở Trường Học sinh miền Nam Đông Triều ngày ấy, chị tên là Kiến và học trên tôi hai lớp. Đã ba mươi mấy năm rồi nay tôi mới có dịp gặp lại chị. Không biết cái dấu sắc ấy đã rơi mất từ khi nào để Kiến thành Kiên? Thời còn học sinh ở miền Bắc, chị từng là một cầu thủ trong đội tuyển bóng chuyền nữ, tham gia giải thiếu niên học sinh toàn miền Bắc; sau nầy về Nam, chị tham gia thi đấu trong đội tuyển nữ của tỉnh. Ngày ấy, là con gái, học hành chăm ngoan, nhưng khi ra đường gặp bọn con trai trêu ghẹo sỗ sàng, chị cũng tỏ vẻ ngang tàng ra dáng anh chị.
Một kỷ niệm về Học sinh miền Nam trên đất Bắc cách nay đã hơn bốn mươi năm, nhưng trong tâm khảm của chị Kiên vẫn còn tươi nguyên. Chị xúc động kể lại:
 “Ngày 29 tháng 8 năm 1964, Kiên là một trong sáu cháu Thiếu nhi miền Nam của đoàn học sinh Khu V được vinh dự vào Phủ Chủ tịch gặp Bác Hồ. Vừa mới từ miền Nam ra, đứa nào cũng ốm yếu xanh xao, Kiên là đứa gầy nhất.
Bác Hồ ôm Kiên vào lòng, hôn lên tóc và hỏi:
-Mỗi bữa, cháu ăn được mấy chén?
-Dạ thưa Bác...! Con ăn được hai chén.
-Phải ăn nhiều vào mới mau lớn, có sức khỏe để phục vụ nhân dân.
Tất cả mọi người có mặt hôm ấy đều khóc.
Hơn bốn mươi năm rồi, mà vòng tay Bác vẫn ấm, lời Bác cứ âm vang, thôi thúc. Mỗi lần nhớ lại, Kiên lại lao vào công việc; dù bất cứ ở đâu, nếu làm được một việc gì đó để dân ta bớt nghèo là Kiên quên mình”.

Nghe chị nói, thấy công việc chị làm, nghe người dân và đồng nghiệp nói về chị, tôi nhận thấy chị Kiên đem vốn đến với nông dân, với người nghèo còn gửi theo cả cái tâm. Vì chữ Tiền người ta có thể lãng quên nhau trong khoảnh khắc, nhưng vì chữ Tâm là mang nhớ suốt đời.

      Đà Nẵng, tháng 12 năm 2004
(Giải C, Cuộc thi Bút ký Liên hiệp Hội VH-NT ĐN, 2004)

Thêm bình luận


Mã an ninh
Làm tươi