prix viagra pharmacie
Hôm nay: thứ 7, 11 - 25 - 2017 / 0:00:00

Miếu làng

Đường đời lên, xuống, dọc, ngang…

Tóc râu sương trắng, miếu làng xanh rêu

1.

Đầu làng Việt Sơn, xã Bình Trị (Thăng Bình Quảng Nam) có một ngôi miếu, nằm sát góc vườn bà nội tôi; cách một đoạn không xa là nhà thằng Bườn chỗ cây đa Bà Vấn. Mọi người quen gọi là Miếu Việt Sơn.

Ngôi miếu ấy có từ thuở nào? Không ai biết! Bọn con nít chúng tôi tò mò hỏi những cụ già nhất làng, cũng chỉ được trả lời rằng, “Có từ ngày xửa ngày xưa”. Các cụ nhà ta là vậy, những gì không thể biết là thuộc về của “ngày xửa ngày xưa”. Dân làng còn truyền tai nhau một số chuyện nghe rất liêu trai, kì bí về Ma Làng và Thần Miếu.

Miếu Việt Sơn không to nhưng có cấu trúc đẹp, giống như một cái am thờ, mái cong lợp ngói âm dương, cửa vòm, dáng cao hình tháp bút ở thế đứng độc phong; toạ lạc trên một khoảng sân khá rộng, hướng mặt nhìn núi Chóp Chài cao vút, lưng tựa vào Gò Giữa có cái ao làng được các cụ gọi là “Con mắt thuỷ”. Dáng miếu bề ngoài rêu phong mốc meo, nhưng ở bên trong lại là những gam màu tươi sáng. Chính điện thờ một chữ Nho rất to màu sành láng bóng (các cụ dịch ra đó là chữ Phước); chung quanh chữ Phước được trang trí những hoạ tiết hoa văn nhiều sắc màu, khảm gắn mảnh chén kiểu bằng sứ, thuỷ tinh  kì công và tinh xảo. Khi có ánh sáng chiếu vào, cả khoang thờ lung linh như ánh ngọc ngũ sắc.

Vào ngày 25 tháng Chạp hằng năm, dân làng Việt Sơn tụ hội về miếu làng, nổi chiêng trống cúng bái linh đình, gọi là “Việc xóm”. Người lớn cùng nhau luận bàn nhiều việc quan trọng; lũ con nít tha hồ chạy nhảy reo hò, tổ chức đánh trận giả. Tất nhiên Việc xóm kết thúc bằng một bữa ăn cộng đồng đông vui; tan tiệc, dọn dẹp xong xuôi, ai nấy ra về vui vẻ, hẹn nhau ngày 25 Tháng Chạp năm sau.

 Ngoài Việc xóm ra, những ngày Rằm và Mồng Một hằng tháng, Trưởng xóm (là một cụ ông  già nhất làng đảm nhận) thường gọi tôi với thằng Bườn nhà ở gần nhất ra quét miếu và giúp ông bày một cái lễ nho nhỏ, nải chuối, quả bòng, chùm dâu da…; có khi là một dĩa xôi, chén chè, để ông thắp hương vái lạy bốn phương tám hướng, khấn cầu những điều tốt lành, ân phước cho bà con làng xóm. Vào Rằm Tháng Bảy và Rằm Tháng Mười, ông sắm lễ vật to hơn, ngoài xôi chè, áo giấy còn có thêm con gà hoặc miếng thịt heo luộc và tô cháo. Vào những ngày nầy, tôi với thằng Bườn tỏ ra rất tích cực, không đợi ông gọi mà hẹn nhau đến sớm hơn; khi ông ra đến nơi thì miếu đã quét xong, chỉ còn việc bày cổ cúng. Khi ông chuẩn bị lên hương đèn khấn vái, thì bọn tôi bấm nhau xin ông đi chơi, nói rằng đến chơi ở đâu đó khá xa. Ông vui vẻ cho phép, lại còn căn dặn, “Các con nhớ về sớm, chớ đừng ham chơi, để bà và mẹ đi tìm nữa nhé!”. Chúng tôi đồng thanh “Dạ!” một tiếng rõ to rồi chạy biến đi ngay.

Nhưng…thực ra bọn tôi đâu có chạy xa, mà lẩn vào vườn bà nội tìm chỗ núp, chờ ông cúng xong, vừa quay gót là chúng tôi tót ngay vào miếu; đợi tàn tuần hương là hai thằng xếp hàng khấu đầu vái lạy Thần Miếu: “Con kính xin Ngài! Con kính xin Ngài! Con kính xin Ngài!”. Lạy xin đủ ba lần là nhanh chóng gói xôi thịt biến ngay vào rừng; không phải mình tôi với thằng Bườn hưởng, mà còn đem phân phát cho mấy “đệ tử chăn bò” trong xóm, để được bọn nó tôn lên ngôi “Huynh trưởng Việt Sơn xứ”.

Thời gian đầu thấy xôi thịt biến mất, cụ Trưởng xóm bán tín bán nghi cứ nghĩ rằng, chắc Thần Miếu hiển linh về thỉnh đi. Nhưng lần hồi rồi hai tên “Thần Miếu hiển linh” bị ông phục bắt quả tang  tại trận là kẻ trộm đồ cúng.

Sau một trận đòn nhừ tử của bà và mẹ, hai thằng tôi nghiễm nhiên mang tên một cái tên ốt dột: “Kẻ Trộm Miếu Làng”. Có người lại còn tỏ ý ám chỉ rằng, đó là những đứa con thiếu vắng cha như cháu bà Đỉnh, con bà Vấn đầu têu nghịch ngợm nhất xóm, phá miếu phá làng, làm ma sống hù doạ người ta.

Nghĩ đi nghĩ lại có khi hai thằng tôi bị gán tiếng oan, chứ chuyện bày trò hoang nghịch, hay việc ăn chùa đồ cúng ở ngã ba, ngoài nổng, gò là nhiều đứa trong xóm cùng tham gia. Duy chỉ có việc vào miếu rinh đồ cúng thì chỉ có tôi với thằng Bườn mới dám liều thân.

 Trong mắt dân làng Việt Sơn, nhất là bọn con nít, Miếu Làng là hiện vật cổ kính, là hiện thân thần thánh và chốn linh thiêng, ít khi dám lai vảng tới. Ban ngày ban mặt, chỉ là ngôi miếu bình thường, nhưng ban đêm, nhất là lúc chạng vạng tối, những ai yếu bóng vía mà có việc phải đi qua nơi ấy, thì mím môi, bấm tay chạy thật nhanh, vì sợ. Chỉ có thằng Lực “cháu bà Đỉnh” với thằng Bườn “con bà Vấn” là không biết sợ, vì chúng nó là hai tên “Kẻ Trộm Miếu Làng”; con ma miếu sống hay hù doạ người ta về đêm cũng chính là chúng nó.

 

            2.

Chiến tranh khốc liệt nổ ra. Làng Việt Sơn tơi bời vì bom đạn. Miếu Việt Sơn linh thiêng biến thành đống gạch vụn. Hai tên “Kẻ Trộm Miếu Làng” phiêu bạt mỗi đứa một nơi vào cuộc rong sinh. Tôi nối bước cha ông vào Chiến khu đi kháng chiến, thằng Bườn chạy tản cư thoát xuồng thành phố, rồi cũng vào bộ đội chiến đấu ở chiến trường Nam Lào,  Căm-pu-chia.

Thời gian đi nhanh như gió chạy. Chiến tranh kết thúc. Đất nước thanh bình, quê hương từng ngày đổi mới. Tôi với thằng Bườn gặp lại nhau thì bóng đời nghiêng chếch núi, tóc đã phai màu, ngồi kể chuyện buồn vui, xuôi về quá khứ. Hình bóng ngôi Miếu Việt Sơn rêu mờ chờn vờn trong ký ức.

Năm ấy, chúng tôi cùng nhau trở về thăm làng Việt Sơn, tìm đến chỗ miếu làng. Đúng chỗ nầy đây!  Hơn 30 năm sau ngày quê hương giải phóng thống nhất đất nước (1975), cảnh vật có nhiều đổi thay; riêng chốn miếu linh xưa vẫn nguyên xi dấu vết hoang tàn đổ nát.

Hai đứa đứng bần thần bên đống gạch vụn trên nền ngôi miếu cũ, cảm thấy bao lâu nay mình quá vô tâm! Không biết ở làng Việt Sơn bây giờ, ngót ngét nửa thế kỷ đã qua, có còn ai nhớ lại chuyện của hai tên “Kẻ Trộm Miếu Làng”?

Chúng tôi tìm đến thăm và nói chuyện với vị Trưởng xóm, gặp một cụ ông thuộc lớp cha chú, tuổi ngoài 80 rồi nhưng trông còn khoẻ mạnh và khá minh mẫn. Nhìn một lúc tỏ ra đăm chiêu ngẫm ngợi, rồi cụ đoán biết chúng tôi ngay.

 Khi nghe chúng tôi đề cập đến ngôi miếu làng, cụ mở lòng tâm sự như kể chuyện: Xã Bình Trị ta vừa rồi được Nhà nước phong tặng là Đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Miếu Việt Sơn ngày ấy cũng là một chứng tích lịch sử của làng, nên mới nát tan ra như thế. Bà con làng Việt Sơn cũng muốn khôi phục lại ngôi miếu cũ, không ao ước nó đẹp như xưa, chỉ mong sao có một chỗ cắm nén hương thờ cúng Thần Linh Thổ Địa; là nơi tụ hội bà con hằng năm, để thắt chặt thêm tình làng nghĩa xóm. Nhưng bà con làng ta còn nghèo quá, chung tay lại cũng chỉ mới láng được cái nền. Việc xóm hằng năm huy động mỗi hộ gia đình góp mười nghìn đồng với một lon gạo, nhưng có nhà góp được lon gạo thì thiếu mười nghìn, người có mười nghìn thì thiếu mất lon gạo. Được như thế cũng đã quí lắm rồi, nhiều it, thiếu đủ, đói no gì đi nữa thì việc của xóm phải làm; cứ đến Ngày 25 Tháng Chạp, bà con xóm ta lại quây quần trên cái nền xi măng ấy là vui. Chắc trời cũng thương dân làng, nên hình như vào ngày ấy không có mưa.

Nghe vậy, chúng tôi ướm hỏi cần khoảng bao nhiêu tiền thì phục dựng lại được miếu làng. Cụ bấm tay ước tính, “khoảng… vài triệu đồng”.

Tôi hơi bất ngờ về con số ấy để phục dựng lại một ngôi miếu. Tưởng vài chục, chứ “khoảng vài triệu đồng” như cụ nói thì đâu có nhiều, qui ra giá tại thời điểm chỉ khoảng 2 chỉ vàng.

Chúng tôi hứa với cụ sẽ đi huy động tiền xây miếu trong một ngày gần nhất. Mấy ngày sau, tôi và thằng Bường trở về làng gặp lại cụ Trưởng xóm, đem theo 2 triệu, còn kẹp thêm một chai rượi nếp mới trong veo; trước kính mời cụ chén rượu nhạt, sau gửi cụ 2 triệu đồng gọi là góp kinh phí phục dựng lại Miếu Việt Sơn.

Chưa uống rượu vội, cụ cho người gọi ngay mấy chú thanh niên trong làng đến gấp. Cụ tuyên bố rất trịnh trọng: “Chắc các con biết rồi, đây là chú Bườn con bà Vấn với chú Lực cháu bà Đỉnh gốc gác ở làng Việt Sơn ta, hai chú đem về gửi cho làng 2 triệu đồng để xây lại Miếu Việt Sơn. Đây là tiền để mua nguyên vật liệu xi măng và sắt thép, còn cát sạn và công cán thì mấy chú thanh niên làng phải lo đóng góp không công”.

Bậc trưởng làng mà phán như vậy thì cánh con trẻ chỉ biết cúi đầu vâng lời. Tất cả cùng uống li rượu ghi nhớ. Cụ Trưởng làng ấn định thời gian luôn: “Hôm nay là cuối tháng Mười âm, các con lo chuẩn bị, ta coi được ngày là đầu tháng sau khởi công luôn; đến 25 tháng Chạp là Ngày Việc xóm hằng niên, cũng là ngày khánh thành Miếu Việt Sơn. Hôm ấy nhất định chú Bườn và chú Lực phải về dự với làng!”

Trong quá trình tổ chức thi công, ở địa phương cũng có ý kiến phải trái rằng, phục dựng Miếu Việt Sơn là tái tạo lại tàn tích phong kiến lạc hậu đã huỷ bỏ từ lâu, tiếp tay truyền bá mê tín dị đoan.

Những ai nghĩ thế là sai rồi. Cùng nhau tôn tạo lại những kỷ vật của làng là thiết; họp nhau thờ cúng tại miếu làng, tổ chức Việc xóm hằng năm… thuộc lĩnh vực văn hoá làng xã, văn hoá tâm linh. Ông cha ta thường nói một cách ẩn ý “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”, là muốn nhắc nhở mọi người hãy hướng về cõi Tâm, nâng niu chữ Đạo làm người.

Giữ đúng hẹn, Ngày 25 tháng Chạp chúng tôi lại cắp rượu trở về làng Việt Sơn. Gần như bà con tề tựu đông đủ, chờ đón hai đứa tôi như hai vị khách quí của làng. Chúng tôi vừa đến nơi. Chuông trống gióng lên ba hồi. Các vị bô lão trong làng hành lễ.

Tôi với thằng Bườn không thể ngờ được rằng, chỉ chừng ấy tiền mà bà con lại xây được một cái miếu cỡ ấy, không bề thế nhưng uy nghi, ba cái am thờ cửa vòm, cùng với hệ thống bệ xi măng trần, tạo  thành một quần thể tâm linh thành kính.

Việc lễ bái đã xong. Trước khi khai tiệc, cụ Trưởng xóm mời tôi với thằng Bườn đứng lên, để cụ thay mặt bà con nâng một li rượu mừng, gọi là cảm ơn tấm lòng thành những người con của làng xa quê; dù bao năm rồi, mà vẫn nhớ về Ngôi Miếu Làng nơi cố xứ.

Giữa cuộc vui của làng bây giờ, nhìn nhau qua li rượu cuối năm, các ông bà cha mẹ hàn huyên câu chuyện cũ; lại cứ gọi thằng Bườn “con bà Vấn”, thằng Lực “cháu bà Đỉnh”… Chắc mọi người lại nhớ về những tên “Kẻ Trộm Miếu Làng” năm xưa!

 

Đà Nẵng, chiều Đông, 2013

 

Thêm bình luận


Mã an ninh
Làm tươi